Bản chất pháp lý của tội danh này là bảo vệ các quyền chính trị cơ bản của công dân khỏi sự can thiệp trái pháp luật. Pháp luật không nhằm mục đích xử lý các hành vi hội họp, lập hội bất hợp pháp (nếu có), mà là bảo vệ chính đáng các hoạt động hợp pháp đó. Việc hội họp và lập hội được pháp luật bảo vệ khi chúng phù hợp với lợi ích của Nhà nước và nhân dân. Điều này cho thấy ranh giới giữa một hành vi được bảo vệ và một hành vi vi phạm pháp luật phụ thuộc vào tính "hợp pháp" của hoạt động đó.  

Quyền tự do hội họp, lập hội là một quyền con người, quyền công dân cơ bản, được ghi nhận và bảo đảm thực hiện xuyên suốt trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Cơ sở hiến định vững chắc nhất cho quyền này là Điều 25 Hiến pháp năm 2013, quy định rõ: “Công dân có quyền tự do... hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Việc lần đầu tiên Hiến pháp 2013 quy định đầy đủ các quyền này trong một điều khoản duy nhất phản ánh tinh thần dân chủ, tiến bộ và sự nhất quán trong tư duy lập pháp của Nhà nước.  

Trong lịch sử lập pháp, quyền này đã được công nhận từ rất sớm. Sắc lệnh số 102/SL/L.004 ngày 20 tháng 5 năm 1957, còn được gọi là “Luật Quy định quyền lập hội”, đã thiết lập các quy định ban đầu. Văn bản này nhấn mạnh quyền lập hội của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm, nhưng đồng thời cũng yêu cầu việc lập hội phải có "mục đích chính đáng, phù hợp với lợi ích nhân dân" và "phải xin phép". Điều này cho thấy quyền lập hội luôn đi kèm với các điều kiện và thủ tục pháp lý nhất định.  

Mặc dù Hiến pháp 2013 đã khẳng định quyền tự do hội họp, lập hội là quyền cơ bản, việc thực thi nó lại được giới hạn bởi các quy định pháp luật cụ thể, trong đó có cả các điều kiện “hợp pháp” được ngầm định trong Điều 163 BLHS. Tuy nhiên, sự thiếu vắng một đạo luật riêng biệt về hội họp, lập hội hiện hành (dù đã có dự thảo) khiến cho việc xác định tính "hợp pháp" của một cuộc hội họp hoặc hội trở nên mơ hồ, dễ dẫn đến cách giải thích không thống nhất trong thực tiễn. Sự mơ hồ này không chỉ tạo ra rủi ro pháp lý cho công dân khi họ thực hiện quyền của mình mà còn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi xác định tội danh. Đây là một vấn đề pháp lý cần được xem xét và hoàn thiện để đảm bảo rằng các nguyên tắc hiến định được hiện thực hóa một cách rõ ràng và hiệu quả trong đời sống pháp luật.

 

1. Các yếu tố cấu thành Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân

1.1. Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.
Theo quy định của điều luật, chủ thể của tội này còn đòi hỏi là người đã bị xử lý kỷ luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi xâm phạm quyền hội họp, lập hội. Các hành vi này được liệt kê tại khoản 1 của điều luật và được bình luận trong phần tiếp theo về dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là hành vi ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp. Trong đó, hành vi ngăn cản người khác lập hội, hội họp hợp pháp là hành vi làm cho người khác không thể thực hiện được các quyền hợp pháp này theo ý muốn của mình; hành vi ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp là hành vi buộc người khác thực hiện các quyền này trái với ý muốn của mình.
Thủ đoạn thực hiện hành vi khách quan trên được quy định có thể là:
  • Dùng vũ lực: Đây là thủ đoạn phạm tội dùng sức mạnh vật chất (có hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội) để tấn công ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp;
  • Đe dọa dùng vũ lực: Đây là thủ đoạn phạm tội khống chế người khác qua việc đe dọa dùng vũ lực để ngăn cản hoặc ép buộc họ lập hội, hội họp hợp pháp.
  • Dùng thủ đoạn khác: Đây là các thủ đoạn phạm tội tuy không thuộc hai thủ đoạn trên nhưng có tính chất như hai thủ đoạn này là có khả năng ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp như đe dọa làm một việc có khả năng uy hiếp tinh thần người bị đe dọa như dọa gây thiệt hại về tài sản, về tinh thần hoặc không thông báo lịch hội họp cho họ, không cho tổ chức hội họp tại địa điểm được cho phép, đăng ký...

1.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết hành vi của mình xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân nhưng vẫn thực hiện. Cụ thể:
  • Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền dân chủ của công dân.
  • Họ mong muốn thực hiện hành vi đó để cản trở, phá hoại hoạt động hội họp, lập hội hợp pháp.
  • Động cơ và mục đích của người phạm tội thường là để duy trì quyền lợi cá nhân hoặc nhóm, ngăn cản sự hình thành một tổ chức mới có thể ảnh hưởng đến họ, hoặc do tư thù cá nhân.

1.4. Khách thể của tội phạm

Khách thể của Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân là quyền hội họp, lập hội hợp pháp của công dân. Quyền này là một trong những quyền tự do dân chủ cơ bản được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo hộ. Các tài liệu phân tích cũng chỉ ra rằng tội danh này còn có thể xâm phạm đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là trong các hành vi cản trở các buổi lễ, cuộc họp có tính chất tôn giáo. Mặc dù BLHS năm 2015 đã tách biệt tội danh này ra khỏi Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 164 BLHS) để tạo sự rõ ràng về mặt kỹ thuật lập pháp, nhưng trong thực tiễn vẫn có thể phát sinh sự chồng lấn khi hành vi cản trở một cuộc họp liên quan đến tôn giáo có thể xâm phạm đồng thời cả hai khách thể này.

Một số lưu ý khi phân tích tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

2. Khung hình phạt tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân

Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân được quy định tại Điều 163 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 cụ thể như sau:

Điều 163. Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tố chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Dan đến biểu tình;
đ) Gây ảnh hưởng xẩu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Người phạm tội còn có thể bị cẩm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 01 năm đến 03 năm được áp. dụng cho trường họp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng như sau:
  • Có tổ chức: Đây là trường hợp đồng phạm xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân mà trong đó có sự câu két chặt chẽ giữa những người đồng phạm.
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn nhất định và đã sử dụng vị thế này khi thực hiện hành vi ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp. Chức vụ, quyền hạn nói ở đây có thể liên quan đến quản lý nhà nước trong hội họp, lập hội.
  • Phạm tội 02 lần trở lên: Đây là trường hợp phạm tội mà chủ thể đã thực hiện tội phạm này ít nhất 02 lần nhung chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và các hành vi phạm tội đều còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 27 BLHS
  • Dẫn đến biểu tình: Đây là trường hợp phạm tội mà hậu quả của nó là sự phản ứng của nạn nhân cũng như của những người khác bằng hình thức tụ tập đông người, xuống đường phản đối hành vi phạm tội đã được thực hiện này (biểu tình).
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội: Đây là trường hợp phạm tội mà quy mô, hậu quả của tội phạm phản ánh tính chất xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự, kỷ cương xã hội, gây tâm lý hoang mang, thiếu tin tưởng vào các cấp chính quyền trong việc giữ ổrí định trật tự, an toàn xã hội...
Ngoài các hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Mục đích của hình phạt này là nhằm ngăn chặn người phạm tội lợi dụng chức vụ, nghề nghiệp hoặc công việc của mình để tiếp tục thực hiện hành vi tương tự trong tương lai.

2.1 Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, các trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự bao gồm: Sự kiện bất ngờ (Điều 20), Phòng vệ chính đáng (Điều 22), Tình thế cấp thiết (Điều 23), Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội, Thực hiện mệnh lệnh của người chỉ huy, Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm.

Đối với Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân, hầu hết các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trên thực tế là không thể áp dụng, bởi vì tội danh này được thực hiện với lỗi cố ý, trái ngược với bản chất không có lỗi của các trường hợp như "Sự kiện bất ngờ".

Tuy nhiên, có một trường hợp phức tạp có thể phát sinh. Đó là khi một người thực hiện hành vi cản trở một cuộc hội họp hoặc lập hội mà bản chất của hoạt động đó là bất hợp pháp, ví dụ như tổ chức khủng bố hoặc hoạt động tội phạm. Trong tình huống này, hành vi cản trở có thể được xem xét dưới góc độ là thực hiện "mệnh lệnh của người chỉ huy" (nếu là cán bộ công an) hoặc "gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội". Ranh giới pháp lý giữa việc cản trở một cuộc hội họp hợp pháp (phạm tội) và ngăn chặn một hành vi vi phạm pháp luật (được loại trừ trách nhiệm hình sự) cần được làm rõ trong từng trường hợp cụ thể, dựa trên tính chất và mục đích của cuộc hội họp bị cản trở.

2.2 Căn cứ pháp lý và các văn bản hướng dẫn tội danh

Căn cứ pháp lý chính để truy cứu Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân là Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 đóng vai trò là cơ sở hiến định quan trọng, quy định về quyền này. Các văn bản pháp lý khác như Sắc lệnh 102/SL/L.004 ngày 20/5/1957 về quyền lập hội cũng cung cấp một phần cơ sở lịch sử và nguyên tắc cho việc thực hiện quyền này.  

Một vấn đề nghiêm trọng được ghi nhận trong quá trình nghiên cứu là sự nhầm lẫn giữa Điều 163 của Bộ luật Hình sự và Điều 163 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) trong các tài liệu tham khảo. Điều 163 BLTTHS quy định về thẩm quyền điều tra của các cơ quan Công an, Quân đội và Viện kiểm sát. Trong khi đó, Điều 163 BLHS quy định về cấu thành tội phạm. Điều này cho thấy sự thiếu vắng các văn bản hướng dẫn chi tiết, trực tiếp cho  

Các tài liệu khác đề cập đến các văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thường liên quan đến các vấn đề khác như tội tham nhũng hoặc các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, chứ không phải Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội. Việc thiếu hụt một Nghị quyết hoặc Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể cho Điều 163 BLHS gây ra những khó khăn nhất định trong việc áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn. Nó tạo ra một khoảng trống pháp lý, nơi mà việc hiểu và áp dụng các tình tiết định tội, định khung có thể mang tính chủ quan, dẫn đến việc không đồng nhất trong công tác điều tra, truy tố và xét xử.

2.3 Giám định pháp y và thu thập chứng 

Vai trò của giám định, pháp y trong các vụ án thuộc Điều 163 BLHS là rất hạn chế. Tội danh này chủ yếu xâm phạm đến các quyền tự do, một khách thể mang tính phi vật chất. Do đó, việc giám định tỷ lệ thương tật hay giám định thiệt hại về vật chất chỉ phát sinh nếu hành vi phạm tội có kèm theo các tội danh khác như cố ý gây thương tích hoặc hủy hoại tài sản.  

Các nguồn chứng cứ trong các vụ án này đóng vai trò quyết định, bao gồm:

  • Lời khai: Lời khai của bị hại, người làm chứng và người liên quan là một trong những nguồn chứng cứ chính để xác định hành vi "dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác".  
  • Vật chứng và tài liệu: Các tài liệu liên quan đến việc xin phép tổ chức cuộc hội họp, lập hội; các video, hình ảnh, dữ liệu điện tử ghi lại hành vi phạm tội; hoặc các văn bản chỉ đạo, cấm đoán của người phạm tội là những nguồn chứng cứ quan trọng.
  • Quyết định xử lý trước đó: Bằng chứng về việc người phạm tội đã "bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này" là một yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm.  

Các chứng cứ này có giá trị trong việc chứng minh cả mặt khách quan (hành vi vi phạm) và điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị xử phạt hành chính mà còn tái phạm), giúp cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở vững chắc để định tội và đưa ra phán quyết chính xác.

 

3. So sánh với các tội danh tương tự

So sánh với Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 164 BLHS):

Cả hai tội danh đều xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân. Khung hình phạt cơ bản và tăng nặng của hai tội danh này có sự tương đồng đáng kể. Tuy nhiên, khách thể của Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội là quyền hội họp, lập hội. Trong khi đó, khách thể của Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào đó. Hành vi khách quan của hai tội danh cũng khác nhau, một bên là ngăn cản, ép buộc hội họp, một bên là cản trở việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

So sánh với Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318 BLHS): Cả hai tội danh đều có thể liên quan đến các hành vi tập trung đông người và có thể có tình tiết định khung tương tự như "có tổ chức" hoặc "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội". Tuy nhiên, khách thể của Tội gây rối trật tự công cộng là trật tự công cộng, vi phạm quy tắc, nếp sống văn minh. Trong khi đó, khách thể của Điều 163 là quyền tự do dân chủ của công dân. Hành vi khách quan của Tội gây rối trật tự công cộng là tự mình gây ra sự lộn xộn, mất trật tự ở nơi công cộng, còn hành vi của Điều 163 là cản trở người khác thực hiện quyền hợp pháp của họ. Hơn nữa, mục đích của người gây rối trật tự công cộng thường không nhằm chống chính quyền nhân dân, chỉ đơn thuần là gây rối.

So sánh với Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ... (Điều 331 BLHS): Cả hai tội danh đều liên quan đến việc thực hiện hoặc can thiệp vào các quyền tự do dân chủ. Tội danh tại Điều 163 là hành vi cản trở người khác thực hiện quyền của họ. Ngược lại, tội danh tại Điều 331 là hành vi TỰ MÌNH lợi dụng các quyền tự do dân chủ (bao gồm cả quyền hội họp, lập hội) để xâm phạm lợi ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Để làm rõ hơn, dưới đây là bảng so sánh các tiêu chí chính giữa các tội danh này:

Tiêu chí so sánh Điều 163 BLHS Điều 164 BLHS Điều 318 BLHS Điều 331 BLHS
Khách thể Quyền hội họp, lập hội hợp pháp của công dân Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Trật tự công cộng Lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Hành vi Dùng vũ lực, đe dọa, thủ đoạn khác để cản trở người khác thực hiện quyền Dùng thủ đoạn ép buộc, cản trở, cấm đoán việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Gây rối trật tự công cộng Lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích
Điều kiện truy cứu Đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính mà còn vi phạm Đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính mà còn vi phạm Đã bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính, kỷ luật về hành vi này
Mục đích Ngăn cản hoặc ép buộc người khác thực hiện quyền Ngăn cản, cấm đoán hoặc ép buộc người khác theo/không theo tín ngưỡng, tôn giáo Gây rối, làm mất trật tự Xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân

4. Câu hỏi thường gặp (FAQs) liên quan đến tội danh

Hỏi: Tội danh này có thể được truy cứu trách nhiệm hình sự khi nào?

Trả lời: Tội danh này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người phạm tội đã có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác để ngăn cản hoặc ép buộc người khác hội họp, lập hội hợp pháp, và trước đó người này đã từng bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về chính hành vi đó mà còn tái phạm.  

Hỏi: Làm sao để phân biệt hành vi vi phạm hành chính và hành vi phạm tội?

Trả lời: Hành vi vi phạm hành chính là hành vi xâm phạm quyền hội họp, lập hội ban đầu, chưa đủ mức độ nguy hiểm để cấu thành tội phạm. Hành vi này chỉ chuyển thành tội phạm hình sự khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính hoặc xử lý kỷ luật về chính hành vi đó nhưng vẫn tiếp tục vi phạm. 

Hỏi: "Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" được hiểu như thế nào?

Trả lời: Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn chính thức và cụ thể về tình tiết này. Tuy nhiên, theo cách hiểu phổ biến và tham chiếu từ các tội danh tương tự như Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318 BLHS), tình tiết này thường được hiểu là hành vi đã làm xáo trộn, gây hoang mang, lo sợ trong cộng đồng, hoặc cản trở nghiêm trọng các hoạt động công cộng, vượt ra ngoài khuôn khổ của một hành vi xâm phạm quyền đơn thuần.  

 

5. Khó khăn thực tiễn và đề xuất hoàn thiện pháp luật

Trong quá trình tư vấn, tham gia các vụ án liên quan đến tội danh này, Luật Minh Khuê nhận thấy một số khó khăn, vướng mắc như sau:

Thứ nhất, khó khăn trong việc xác định tính "hợp pháp": Thách thức lớn nhất trong việc áp dụng Điều 163 BLHS là sự thiếu vắng một văn bản pháp lý cụ thể, rõ ràng định nghĩa thế nào là một cuộc hội họp, lập hội "hợp pháp". Các văn bản cũ như Sắc lệnh năm 1957 đã quy định "phải xin phép" , nhưng các văn bản pháp luật hiện đại, bao gồm cả các dự thảo luật về hội, vẫn chưa được ban hành. Khoảng trống pháp lý này tạo ra một sự mơ hồ lớn, khiến việc xác định hành vi bị xâm phạm có thực sự là một quyền hợp pháp hay không trở nên khó khăn, có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật một cách thiếu khách quan, đặc biệt trong những trường hợp nhạy cảm.

Thứ hai, vướng mắc trong phân biệt ranh giới với các tội danh tương tự: Ranh giới giữa Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội và các tội danh khác như Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318 BLHS) là rất mỏng manh. Cả hai tội danh đều có thể liên quan đến các hành vi tụ tập đông người và có thể gây ra cùng một hậu quả là "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội". Sự mơ hồ của tình tiết này, khi chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, đã gây ra nhiều quan điểm khác nhau trong giới luật học và thực tiễn xét xử. Điều này không chỉ gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn làm giảm tính dự báo của pháp luật, khiến người dân và các tổ chức khó nắm bắt được ranh giới giữa một hành vi hợp pháp và một hành vi vi phạm pháp luật.

Qua những khó khăn trên, Luật Minh khuê để xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về tội danh này:

Thứ nhất, đề xuất làm rõ các khái niệm pháp lý: Để giải quyết những vướng mắc nêu trên, cần khẩn trương ban hành các văn bản pháp luật mới, hiện đại, nhằm định nghĩa và hướng dẫn cụ thể về quyền hội họp, lập hội. Việc "pháp điển hóa" các quyền hiến định thành các quyền năng cụ thể, có thể thực hiện và bảo vệ bằng các thiết chế pháp lý là một bước đi cần thiết. Điều này sẽ cung cấp một nền tảng vững chắc để xác định tính "hợp pháp" của các hoạt động hội họp, lập hội, từ đó làm cơ sở cho việc áp dụng chính xác Điều 163 BLHS.

Thứ hai, kiến nghị ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cần sớm ban hành một Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng Điều 163 BLHS. Văn bản này cần làm rõ các vấn đề còn gây tranh cãi, đặc biệt là cách hiểu và áp dụng tình tiết "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội", cũng như hướng dẫn phân biệt tội danh này với các tội danh tương tự như Điều 164, 318 và 331 BLHS. Điều này sẽ giúp đảm bảo sự thống nhất trong các cơ quan tiến hành tố tụng, giảm thiểu rủi ro áp dụng pháp luật tùy tiện và tăng cường tính nghiêm minh, công bằng của hệ thống tư pháp.

Tóm lại: Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân theo Điều 163 BLHS 2015 là một tội danh có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ các quyền tự do dân chủ cơ bản của công dân Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của tội danh này là yêu cầu một điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đặc thù: hành vi vi phạm chỉ bị hình sự hóa sau khi đã bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc kỷ luật mà người phạm tội vẫn tiếp tục tái phạm. Điều này thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta là ưu tiên giáo dục, răn đe, chỉ xử lý bằng pháp luật hình sự trong trường hợp cần thiết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.