- 1. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là gì?
- 2. Một số đặc trưng cơ bản của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
- 2.1. Giao dịch bảo đảm (GDBĐ) chỉ được xác lập cùng với một hợp đồng hoặc cam kết khác.
- 2.2. Mục đích của GDBĐ là bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng hoặc cam kết giữa các bên
- 2.3. Phạm vi bảo đảm của GDBĐ không vượt quá phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm.
- 2.4. GDBĐ vừa mang tính pháp định, vừa mang tính thỏa thuận.
- 3. Một số vấn đề cụ thể về các giao dịch bảo đảm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
- Thế chấp tài sản hình thành trong tương lai
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của người thứ ba giữ tài sản thế chấp
- Biện pháp bảo lãnh
1. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là gì?
Bộ luật Dân sự (BLDS) hiện hành đã quy định bảy biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, kí cược, kí quỹ, bảo lãnh và tín chấp, cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu. Việc xác lập biện pháp bảo đảm giữa các chủ thể với nhau được thực hiện thông qua một giao dịch dân sự, vì thế, giao dịch dân sự này được gọi là giao dịch bảo đảm. Vì vậy, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được hiểu theo hai phương diện:
- Về mặt khách quan: Là sự định của pháp luật về các biện pháp để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó.
- Về mặt chủ quan: Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thỏa thuận giữa các bên về việc lựa chọn sử dụng một trong các biện pháp đã được pháp luật quy định để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với tính chất tác động, dự phòng để bảo đảm, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra.
2. Một số đặc trưng cơ bản của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Phụ thuộc vào nội dung, tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể, cũng như phụ thuộc vào điều kiện của các chủ thể tham gia quan hệ ấy mà mỗi biện pháp bảo đảm mang một đặc điểm riêng biệt
2.1. Giao dịch bảo đảm (GDBĐ) chỉ được xác lập cùng với một hợp đồng hoặc cam kết khác.
Các giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc và gắn liền vối một nghĩa vụ nào đó. Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ, khi có quan hệ nghĩa vụ chính hoặc giữa các bên có một cam kết nhất định thì các bên mối cùng nhau xác lập một giao dịch bảo đảm. Chẳng hạn, các bên chỉ xác lập với nhau một hợp đồng cầm cố tài sản hoặc hợp đồng thế chấp tài sản khi hợp đồng vay tài sản đã được xác lập. Hoặc, chỉ xác lập một hợp đồng đặt cọc trong trường hợp các bên đã có cam kết với nhau về việc sẽ giao kết hoặc thực hiện một hợp đồng mua bán tài sản. Nghĩa là,việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không tồn tại một cách độc lập. Nộí dung, hiệu lực của giao dịch bảo đảm phù hợp và phụ thuộc vào nghĩa vụ chính hoặc cam kết giữa hai bên.
2.2. Mục đích của GDBĐ là bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng hoặc cam kết giữa các bên
Thông thường, khi xác lập giao dịch bảo đảm, các bên hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ. Bên cạnh đó, ở nhiều trường hợp, các bên còn hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm trong giao kết hợp đồng của cả hai bên. Chẳng hạn như, khi khi thực hiện giao dịch mua bán bất động sản, bên mua lúc nào cũng phải cọc cho bên bán một số tiền nhất định để thể hiện sự chắc chắn trong việc mua bất động sản đó.
Mỗi một giao dịch bảo đảm tùy theo tính chất mà có những chức năng khác nhau. Có thể giao dịch bảo đảm này có chức năng này nhưng có thể lại không có chức năng đó ở một giao dịch bảo đảm khác. Tựu chung lại, nếu nhìn một cách khái quát thì các giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đều có ba chức năng chính: chức năng tác động, chức năng dự phòng, chức năng khắc phục hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ.
Đối với trường hợp bên bảo đảm cũng chính là bên có nghĩa vụ được bảo đảm thì thông qua chức năng tác động, giao dịch bảo đảm nâng cao ý thức thực hiện nghĩa vụ của họ. Giao dịch bảo đảm sẽ phát huy chức năng dự phòng và chức năng khắc phục hậu quả khi người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ. Lượng tài chính từ các tài sản bảo đảm được dùng để thay thế cho phần nghĩa vụ bị vi phạm và khắc phụ các thiệt hại xảy ra từ sự vi phạm nghĩa vụ đó. Ví dụ: A do có việc cần đến tiền nên đã cầm cố chiếc xe gắn máy của mình cho anh B với giá 10 triệu đồng và hẹn 01 tháng sau sẽ thanh toán hết nợ nếu không chiếc xe sẽ hoàn toàn thuộc về B. Sau 01 tháng, nếu B không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho anh B thì anh B hoàn toàn có quyền sở hữu chiếc xe của A.
2.3. Phạm vi bảo đảm của GDBĐ không vượt quá phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm.
Khoản 1 Điều 293 BLDS 2015 quy định:
"Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại."
Có thể thấy, về mặt nguyên tắc, phạm vi bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ khi các bên không thỏa thuận và pháp luật cũng không quy định khác nhưng cũng chỉ là một phần nghĩa vụ. Chẳng hạn như: "Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh".
Trong thực tế, người có nghĩa vụ đưa ra một tài sản có giá trị lớn hơn nhiều lần giá trị của nghĩa vụ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng phạm vi của bảo lãnh không lớn hơn phạm vị của nghĩa vụ. Bởi lẽ, mặc cho giá trị của đối tượng bảo đảm có lớn hơn giá trị nghĩa vụ nhưng mục đích của việc bảo đảm đó cũng chỉ là để người mang nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi đã xác định.
2.4. GDBĐ vừa mang tính pháp định, vừa mang tính thỏa thuận.
Dưới góc độ là các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, ở nhiều tình huống, các bên bắt buộc phải xác lập giao dịch bảo đảm để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Có thể nói đến như, đối với các hợp đồng tín dụng mà bên cho vay là ngân hàng thương mại nhà nước thì các bên bắt buộc phải xác lập hợp đồng cầm cố hoặc thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ vay.
Như vậy, có thể thấy, theo quy định của pháp luật hiện hành về tín dụng ngân hàng thì khách hàng nếu muốn vay tiền tại ngân hàng thương mại thì cần có tài sản để thuế chấp hoặc cầm cố. Mặt khác, trừ trường hợp đặc biệt, ngân hàng chỉ được cho vay khi khách hàng chấp nhận việc xác lập hợp đồng cầm cố hoặc thế chấp để bảo đảm việc trả nợ vốn vay khi đến thời hạn.
Cùng với tính chất bắt buộc nói trên thì các giao dịch bảo đảm luôn mang tính chất thỏa thuận. Nếu các nghĩa vụ phát sinh từ những căn cứ khác nhau (các căn cứ này có thể là sự thỏa thuận, có thể là do quy định của pháp luật) thì biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ có thể phát sinh thông qua sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự. Vì vậy, có quan điểm cho rằng các biên pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là những hợp đồng phụ được đặt ra bên cạnh một hợp đồng chính. Quan điểm trên còn nhiều vấn đề cần tranh luận nhưng dù sao vẫn phải thừa nhận rằng cách thức và toàn bộ nội dung của một biện pháp bảo đảm đều là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên. Có nhưng hợp đồng dân sự mà pháp luật quy định buộc phải có biện pháp bảo đảm (như hợp đồng cho vay mà bên cho vay là Ngân hàng Nhà nước) nhưng không vì thế mà mất đi sự thỏa thuận giữa các bên. Dù pháp luật đã quy định phải có thế chấp của người vay nhưng người vay vẫn có quyền lựa chọn thỏa thuận để cùng với bên cho vay xác định về nội dung thế chấp (đối tượng của thế chấp là bất động sản nào, phương thức xử lý tài sản ra sao,...)
Tóm lại, từ những đặc trưng cơ bản đã phân tích ở trên, có thể nói rằng về bản chất pháp lí, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một loại "chế tài" trong nghĩa vụ dân sự. Chế tài này do các bên thỏa thuận đặt ra dưới sự bảo trợ của pháp luật. Các bên có thể tự áp dụng như đã thỏa thuận khi có sự vi phạm nghĩa vụ hoặc nếu không có thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để bảo đảm quyền lợi cho bên có quyền.