1. Sự ra đời của cơ quan quản lý cạnh tranh.

Sau khi tham khảo và và nghiên cứu mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh của những nước trên thế giới, các nhà làm luật Việt Nam đã đúc kết được một số kinh nghiệm, góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh ở nước ta.
Tại Việt Nam, Luật Cạnh tranh được ban hành năm 2004 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2005. Gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật cạnh tranh, các nhà làm luật Việt Nam đã bàn bạc và thành lập Ban Quản lý Cạnh tranh. Ngày 26/02/2004, Bộ trưởng Bộ
Thương mại đã ban hành Quyết định số 0235/2004/QĐ-BTM thành lập Cục Quản lý cạnh tranh trên cơ sở Ban Quản lý cạnh tranh 
Với cơ sở và những bài học kinh nghiệm rút ra được từ Luật Cạnh tranh năm 2014, Việt Nam đã cho ra đời Luật Cạnh tranh 2018 với phương châm “đạo luật cạnh tranh mang tầm vóc của một đạo luật căn bản trong cấu trúc của pháp luật thương mại của nước ta”. Luật Cạnh tranh năm 2018 đã được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/07/2019.
Áp dụng Luật Cạnh tranh năm 2018, hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh của nước ta đã được thành lập và tổ chức với hai cơ quan riêng biệt là Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh. Theo đó, Cục quản lý cạnh tranh có vai trò điều tra, thu thập, tìm kiếm các chứng cứ có liên quan đến vụ việc cần xét xử; Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ xét xử, xử lý, đưa ra các quyết định và giải quyết khiếu nại có liên quan đến các vụ việc cạnh tranh.

2. Mô hình tổ chức.

Ở các nước trên thế giới, mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh có sự khác nhau như cơ quan quản lý cạnh tranh thuộc Quốc hội, Chính phủ hoặc bộ... Cụ thể, tại Mỹ cơ quan quản lý cạnh tranh thuộc nhánh hành pháp và có vị trí hoàn toàn độc lập với các bộ trong chính phủ, kể cả Bộ Thương mại. Ở Anh, cơ quan quản lý cạnh tranh cũng thuộc hành pháp, được tổ chức độc lập, nhận chức năng thực thi Luật Cạnh tranh và Luật Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên ở Đan Mạch, cơ quan này lại thuộc Bộ Thương mại và công nghiệp, ở Nhật Bản lại thuộc Bộ Nội vụ, quản lý công, bưu chính và viễn thông… Có thể thấy, mỗi quốc gia có cách thức tổ chức cơ quan quản lý cạnh tranh khác nhau.
Đối với việc lập một Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Thương mại dễ thực hiện, không phải tăng đầu mối các cơ quan thuộc chính phủ, phù hợp với xu hướng cải cách hành chính. Nhưng lại khó có thể đảm bảo tính độc lập trong hoạt động của cục khi mà Bộ Thương mại còn nắm giữ trong tay hàng chục doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn.
Về phương án xây dựng một cơ quan quản lý cạnh tranh ngang bộ, ưu điểm rõ nhất là đảm bảo được tính độc lập của cơ quan này đối với các bộ, góp phần giúp cơ quản quản lý cạnh tranh có tiếng nói hơn về việc xử lí các vụ việc cạnh tranh. Mặt hạn chế của phương án này chính là gây ra rắc rối, cồng kềnh hơn về cơ cấu tổ chức hành chính. Ngoài ra, pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam vẫn là một ngành non trẻ, những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn ít, việc thành lập một cơ quản quản lý ngang bộ là chưa thực sự tương xứng. Sau khi nghiên cứu kĩ về những ưu điểm và hạn chế mà hai mô hình tổ chức quản lý cơ quan cạnh tranh mang lại, các nhà làm luật Việt Nam cho rằng, để đáp ứng được xu hướng tối cao hóa cơ quan quản lý cạnh tranh trên thế giới, cũng như đảm bảo tính độc lập của cơ quan quản lý cạnh tranh với bất cứ hoạt động nào liên quan đến doanh nghiệp, thì trong tương lai chúng ta nên xây dựng một cơ quan quản lý cạnh tranh ngang bộ (trực thuộc Chính phủ).
Xét việc thành lập một mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh ngang bộ, nước ta có thể đáp ứng được các mục tiêu như:
- Tạo điều kiện cho việc huy động nguồn thu ngân sách thông qua hoạt động một cách độc lập, tăng thêm tính tự chủ của cơ quan quản lý cạnh tranh.
- Đảm bảo và thúc đẩy việc tập trung chuyên môn, tính công chính, minh bạch và khả năng chịu trách nhiệm và giải trình của cơ quan này. Tự chủ về quá trình tuyển chọn, bổ nhiệm cũng như đào tạo nhân sự, tự chủ về ngân sách hoạt động bảo đảm cho cơ quan quản lý cạnh tranh có thực quyền cao hơn đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà số vụ kiện về các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh tăng lên một cách đáng kể. Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều quốc gia phát triển trên thế giới như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada, Úc… nơi cơ quan quản lý cạnh tranh đều có vị trí độc lập và quyền tự chủ, hoạt động rất hiệu quả.
Để đạt được những mục tiêu trên, Việt Nam phải thay đổi pháp luật cạnh tranh một cách toàn diện. Điều chỉnh lại mô hình tổ chức của cơ quan quản lý cạnh tranh là bước đệm giúp pháp luật cạnh tranh Việt Nam trở nên phổ biến và phát triển mạnh mẽ hơn.

3. Cục quản lý cạnh tranh

Theo Khoản 1, Điều 1 thuộc Quyết định số 848/QĐ-BCT ban hành ngày 05/02/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh: 
1. Cục Quản lý cạnh tranh là tổ chức thuộc Bộ Công Thương có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ theo quy định của pháp luật.
Quyết định số 848/QĐ-BCT đã quy định rõ thẩm quyền và chức năng của Cục quản lý cạnh tranh. Trong đó, Cục quản lý cạnh tranh thực hiện các hoạt động liên quan đến việc:
- Điều tra, xử lý các hành vi liên quan đến vụ việc hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ người tiêu dùng.
- Thẩm định hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ theo các quy định của pháp luật để trình Bộ trưởng quyết định.
- Kiểm soát tập trung kinh tế.
- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong Khoản 1, Điều 1 tại Quyết định số 848/QĐ-BCT có nhắc đến một nhiệm vụ của Cục quản lý cạnh tranh đó là “đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ theo quy định của pháp luật”. Điều này khiến các nhà làm luật Việt Nam cho rằng, pháp luật cạnh tranh ở nước ta chỉ có nhiệm vụ điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh, và quy định các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh; chứ giải quyết các vụ việc liên quan đến bán phá giá của các doanh nghiệp nước ngoài chưa thực sự phù hợp với bản chất của pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay. Điều này có thể sẽ khiến hoạt động của Cục quản lý cạnh tranh bị quá tải, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của cục. Hơn thế nữa, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Cục quản lý cạnh tranh là “giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền; xử lý hoặc đề xuất biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;”, nên cơ quan quản lý cạnh tranh, cụ thể là
Cục quản lý cạnh tranh vẫn nên giữ nguyên chức năng là cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

4. Hội đồng cạnh tranh.

Để xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh, ngày 09 tháng 01 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2006/NĐ-CP. Theo đó, Hội đồng cạnh tranh có các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể là:
- Tổ chức xử lý, giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh.
- Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh.
- Tham gia tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật tố tụng hành chính. Những năm qua, địa vị pháp lý của Hội đồng cạnh tranh vẫn chưa được xác định rõ ràng, tình trạng này đã ảnh huởng không nhỏ đến hoạt động của Hội đồng cạnh tranh, và gây nhiều khó khăn cho Hội đồng cạnh tranh trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đuợc giao, đặc biệt trong các hoạt động đòi hỏi sự hợp tác từ phía các cơ quan nhà nuớc khác.

5.  Những bất cập trong việc tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh.

- Cục quản lý cạnh tranh
Luật Cạnh tranh ở Việt Nam vẫn còn là một ngành luật non trẻ, mới được thành lập chưa lâu. Điều đó cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến số lượng cũng như chất lượng đào tạo các chuyên gia, điều tra viên liên quan đến lĩnh vực cạnh tranh. Đồng thời, lượng công việc ở Cục quản lý cạnh tranh khá cao, nhu cầu của các doanh nghiệp, hiệp hội và người tiêu dùng ngày càng gia tăng, số lượng chuyên viên và điều tra viên không đủ để đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi Cục quản lý cạnh tranh phải có chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên một cách nhanh chóng, hiệu quả.
Thực tế cho thấy, mô hình Cục quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Công Thương như hiện nay chưa đảm bảo vị thế, tiếng nói của cơ quan cạnh tranh trong quá trình tham vấn chính sách với các Bộ/ngành khác. Cục quản lý cạnh tranh vẫn chưa có nhiều động thái nhằm thể hiện vai trò  của mình trong đời sống xã hội và chức năng chuyên biệt của nó trong hệ thống cơ quan nhà nước.
Hiện nay, Cục quản lý cạnh tranh Việt Nam phải đảm nhiệm cả ba chức năng là cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng và phòng vệ thương mại. Trên thế giới hiện nay hầu như không có nước nào mà cơ quan cạnh tranh phải thực thi các biện pháp phòng vệ thương mại giống như Việt Nam. Điều này đã dẫn đến tình trạng quá tải cho hoạt động của Cục quản lý cạnh tranh trong thời gian qua.
- Hội đồng cạnh tranh
Hạn chế đầu tiên là về mặt tổ chức, Việt Nam vẫn chưa xác định được Hội đồng cạnh tranh trực thuộc Chính phủ hay Bộ Công thương. Nghị định số 05/2006/NĐ-CP chỉ quy định Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập mà chưa khẳng định rõ ràng nó trực thuộc cơ quan nào trong bộ máy hành pháp. Với tình trạng này, mô hình tổ chức của Hội đồng cạnh tranh đến nay vẫn chưa thể có kết quả chính xác.
Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng cạnh tranh cho đến thời điểm hiện tại chỉ là xét xử, xử lý, đưa ra các quyết định, giải quyết khiếu nại có liên quan đến vụ việc cạnh tranh; trong khi Cục quản lý cạnh tranh lại đảm nhiệm quá nhiều vai trò dẫn đến sự thiếu cân đối. Hơn nữa, các thành viên của Hội đồng cạnh tranh như Bộ Công thương, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính… không tham gia điều tra vụ việc cạnh tranh ngay từ thời điểm ban đầu, nên việc ra quyết định xử lý sẽ không được thấu đáo và chặt chẽ, làm kéo dài thêm thời gian xử lý vụ việc.
Đa số Thành viên Hội đồng cạnh tranh đều là các lãnh đạo, cán bộ đuơng nhiệm của các Bộ, ngành như công thương, tài chính, giao thông vận tải… được bổ nhiệm kiêm giữ các chức danh pháp lý tại Hội đồng cạnh tranh. Điều này chứng minh rằng hầu hết các thành viên của Hội đồng đều kiêm nhiệm, bộ máy còn chưa hoàn chỉnh về nhân sự và biên chế. Cơ chế làm việc kiêm nhiệm của các thành viên sẽ không đảm bảo được tính tập trung, chất lượng đánh giá và giải quyết các vụ việc cạnh tranh. Hơn nữa, chính cơ chế kiêm nhiệm còn khiến cho Hội đồng cạnh tranh thiếu sự chủ động và mờ nhạt, vô tình trở thành “cái bóng” của Cục quản lý cạnh tranh.