1. Chất vấn là gì?
Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của Quốc hội. Kì họp là nơi biểu hiện trực tiếp và tập trung nhất quyền lực nhà nước của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền lập hiến và lập pháp; nơi thể hiện trí tuệ tập thể của các đại biểu Quốc hội. Tại kì họp, Quốc hội thảo luận dân chủ và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và của nhân dân; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước. Trong đó, hoạt động chất vấn là một hoạt động quan trọng và được chú ý nhiều nhất.
Chất vấn là một hình thức giám sát trực tiếp của Quốc hội, được quy định tại Điều 80 của Hiến pháp 2013 và được cụ thể hóa tại Điều 32 Luật Tổ chức Quốc hội.
– Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước.
– Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội hoặc tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trường hợp cần thiết, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho trả lời bằng văn bản.
– Trường hợp đại biểu Quốc hội chưa đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại tại phiên họp của Quốc hội, của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc gửi chất vấn bằng văn bản đến người bị chất vấn.
Chính vì vậy, chất vấn có vai trò rất quan trọng, tác động lớn đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội.
Theo đó, chất vấn là quyền hỏi và yêu cầu phải giải thích rõ ràng của đại biểu (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân) đối với các chức danh được các đại biểu bầu, phê chuẩn ra trước phiên họp toàn thể của cơ quan đại diện để trả lời về sự thi hành chính sách quốc gia hoặc một vấn đề hiện thời đối với quốc gia; trong trường hợp cần điều tra thì đối với Quốc hội, có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hoặc tại kì họp sau của Quốc hội hoác cho trả lời bằng văn bản.
2. Quy định chung về hoạt động chất vấn
Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng quyền chất vấn của Đại biểu quốc hội đối với Tổng Kiểm toán nhà nước và khẳng định trách nhiệm của người bị chất vấn “phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội”.
Pháp luật cũng quy định rõ về quyền chất vấn lại của Đại biểu quốc hội: “Trường hợp Đại biểu quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại để người bị chất vấn trả lời”; đồng thời, yêu cầu những người khác có trách nhiệm liên quan phải tham dự phiên họp và trả lời chất vấn của Đại biểu quốc hội về vấn đề thuộc trách nhiệm của mình, cùng những người bị chất vấn.
Bên cạnh hoạt động chất vấn trực tiếp tại kỳ họp Quốc hội và phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đại biểu quốc hội còn có quyền “gửi chất vấn bằng văn bản đến người bị chất vấn”. Trường hợp Đại biểu quốc hội gửi chất vấn trực tiếp bằng văn bản đến người bị chất vấn thì chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày chất vấn, người bị chất vấn phải trả lời bằng văn bản cho người chất vấn, đồng thời gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội.
3. Quy trình, thủ tục chất vấn tại kỳ họp Quốc hội
Theo các quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội (Luật HĐGS) hiện hành, quy trình, thủ tục chất vấn tại kỳ họp Quốc hội được tiến hành như sau:
+ Người có quyền chất vấn: ĐBQH. ĐBQH ghi chất vấn gửi đến Chủ tịch Quốc hội để chuyển đến nguời bị chất vấn;
+ Người bị chất vấn: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
+ Thời điểm, hình thức chất vấn: ĐBQH có quyền chất vấn tại kỳ họp Quốc hội hoặc trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội. Chất vấn được thực hiện thông qua hình thức hỏi trực tiếp hoặc bằng văn bản;
+ Thời điểm, hình thức trả lời chất vấn: người bị chất vấn trả lời tại kỳ họp Quốc hội hoặc trả lời trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội. Trả lời chất vấn được thực hiện thông qua hình thức trả lời trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản. Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ nội dung các vấn đề mà ĐBQH nêu/chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục;
+ Yêu cầu đối với nội dung chất vấn: nội dung chất vấn phải ngắn gọn, rõ ràng, có căn cứ và phải liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cá nhân của người bị chất vấn.
Thời gian trả lời chất vấn về từng vấn đề không quá 15 phút; thời gian nêu câu hỏi không quá 3 phút được quy định tại Điều 43 Nội quy kỳ họp Quốc hội.
Đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội, theo quy định của Luật HĐGS, có nhiệm vụ giúp Chủ tịch Quốc hội tổng hợp các chất vấn của ĐBQH để báo cáo UBTVQH.
4. Quy trình, thủ tục chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội
UBTVQH xem xét việc trả lời chất vấn của ĐBQH được Quốc hội cho trả lời tại phiên họp UBTVQH và chất vấn khác được gửi đến UBTVQH. Việc chất vấn và trả lời chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội được thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:
- ĐBQH ghi nội dung chất vấn, người bị chất vấn và gửi đến UBTVQH để chuyển đến người bị chất vấn. Tùy theo nội dung chất vấn, UBTVQH có thể quyết định người bị chất vấn trả lời chất vấn bằng văn bản cho ĐBQH hoặc trả lời tại phiên họp UBTVQH.
- Trong trường hợp UBTVQH quyết định người bị chất vấn trả lời bằng văn bản thì văn bản trả lời được gửi đồng thời đến UBTVQH và ĐBQH; nếu ĐBQH không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận trước Quốc hội hoặc UBTVQH.
- Trong trường hợp UBTVQH quyết định trả lời chất vấn tại phiên họp UBTVQH thì việc chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện như sau:
+ Chủ tịch Quốc hội nêu chất vấn của ĐBQH đã được Quốc hội quyết định cho trả lời tại phiên họp UBTVQH và những chất vấn khác được gửi đến UBTVQH trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội mà UBTVQH quyết định cho trả lời tại phiên họp của UBTVQH;
+ Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ nội dung các vấn đề mà ĐBQH chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục;
+ ĐBQH đã chất vấn có thể hỏi thêm để làm rõ nội dung đã chất vấn;
+ UBTVQH ra nghị quyết về việc chất vấn và trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết;
+ Trong trường hợp ĐBQH đã chất vấn không tham dự phiên họp thì nội dung trả lời chất vấn, kết quả phiên họp trả lời chất vấn phải được gửi đến đại biểu đó chậm nhất là 7 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp UBTVQH; nếu ĐBQH đã chất vấn không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị UBTVQH đưa ra thảo luận tại kỳ họp Quốc hội;
+ Người đã trả lời chất vấn tại phiên họp UBTVQH hoặc đã trả lời chất vấn của ĐBQH bằng văn bản có trách nhiệm báo cáo với ĐBQH bằng văn bản về việc thực hiện những điều đã hứa khi trả lời chất vấn tại kỳ họp tiếp theo.
Hằng năm, tổ chức ít nhất 2 lần chất vấn tại phiên họp UBTVQH về nhưng vấn đề được Quốc hội giao, do ĐBQH chất vấn hoặc UBTVQH lựa chọn. ĐBQH hoạt động chuyên trách ở trung ương và ĐBQH quan tâm đăng ký tham dự phiên họp chất vấn của UBTVQH. Tùy theo nội dung có thể thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về hoạt động chất vấn; tổ chức phát thanh, truyền hình trực tiếp và trực tuyến để các vị ĐBQH tham gia và nhân dân theo dõi, giám sát.
5. Vai trò của hoạt động chất vấn
Chỉ trong kỳ họp Quốc hội, các dự án luật mới được thông qua, những vấn đề quan trọng mới được quyết định và hoạt động giám sát tối cao mới được bảo đảm bằng một giá trị pháp lý cao nhất. Một trong những hoạt động thể hiện tính công khai của kỳ họp Quốc hội chính là hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn. Tính chất công khai này được thể hiện cả về nội dung và hình thức: tất cả các vấn đề trong hoạt động của bộ máy nhà nước, trách nhiệm của những người được Quốc hội bầu và phê chuẩn, những vấn đề mà cử tri quan tâm, thậm chí là bức xúc đều là nội dung chất vấn bằng hình thức đối thoại, tranh luận, giải trình công khai và toàn bộ hoạt động chất vấn đều được phát thanh và truyền hình trực tiếp. Chính vì lẽ đó, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn đã và đang trở thành điểm nhấn quan trọng của kỳ họp, là sự mong đợi của cử tri, nhân dân và của chính các đại biểu Quốc hội tại mỗi kỳ họp. Thực tế là hoạt động chất vấn trong suốt các nhiệm kỳ Quốc hội vừa qua liên tục được đổi mới để nâng cao hiệu quả, đáp ứng đòi hỏi chung của việc đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội tại kỳ họp, làm cho hoạt động chất vấn không chỉ đơn thuần là một hình thức hoạt động giám sát mà còn tương tác, bổ trợ cho các hoạt động giám sát khác cũng như thực hiện chức năng lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Chính vì tầm quan trọng của chất vấn tại kỳ họp cho nên một trong những vấn đề nan giải nhất của hoạt động này là lựa chọn chủ đề chất vấn và người được chất vấn tại mỗi kỳ họp. Mỗi năm chỉ có hai kỳ họp, mỗi kỳ họp lại rất nhiều nội dung, thời lượng dành cho chất vấn nhiều cũng không quá ba ngày, trong khi hàng chục cơ quan, hàng trăm vấn đề cốt lõi, kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thì có tới vài nghìn ý kiến. Trong khi đó, ở các Quốc hội hoạt động thường xuyên, chất vấn diễn ra với tần suất lớn, các chủ đề và người được chất vấn cũng không được xác định trước. Vấn đề nan giải này của Quốc hội nước ta đã được chế định trong Luật Hoạt động giám sát, theo đó Quốc hội tiến hành chất vấn theo nhóm vấn đề tại mỗi kỳ họp, đồng thời tại kỳ họp của năm giữa và năm cuối mỗi khóa, Quốc hội tiến hành chất vấn tổng hợp, không theo chủ đề định trước. Trên thực tế, chế định này đã mang lại hiệu ứng tích cực.