- 1. Khái quát
- 2. Đặc điểm của các chứng cứ
- 2.1 Đối với tài liệu đọc được
- 2.2 Đối với tài liệu nghe được, nhìn được
- 2.3 Đối với thông điệp dữ liệu điện tử
- 3. Thu thập vật chứng
- 3.1 Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của NLC hoặc yêu cầu UBND xác nhận chữ kí của NLC
- 3.2 Yêu cầu CQ, tổ chức, cá nhân cho SC hoặc cung cấp những TL có liên quan đến việc giải quyết vụ việc
- 3.3 Yêu cầu tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ
- 3.4 Yêu cầu tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản
- 3.5 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật
1. Khái quát
Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định các biện pháp thu thập chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm đảm bảo đương sự có đầy đủ chứng cứ để cung cấp cho tòa án cũng như đảm bảo các chứng cứ đó có tính hợp pháp.Theo đó, đương sự có quyền tự mình thu thập chứng cứ bằng những biện pháp được quy định tại khoản 1 Điều 97 BLTTDS năm 2015, cụ thể:
Điều 97. Xác minh, thu thập chứng cứ1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử;b) Thu thập vật chứng;c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng;d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý;đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng;e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản;h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật.
2. Đặc điểm của các chứng cứ
2.1 Đối với tài liệu đọc được
2.2 Đối với tài liệu nghe được, nhìn được
2.3 Đối với thông điệp dữ liệu điện tử
3. Thu thập vật chứng
Khi thu thập vật chứng cũng cần đảm bảo theo quy định tại khoản 4 Điều 95 BLTTDS năm 2015, theo đó vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ án. Do đó, khi thu thập vật chứng, đương sự phải bảo quản, giữ gìn để đảm bảo tính đặc định của vật chứng trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
3.1 Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của NLC hoặc yêu cầu UBND xác nhận chữ kí của NLC
Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng hoặc yêu cầu UBND xác nhận chữ kí của người làm chứng. Đây là trường hợp sự việc xảy ra có sự chứng kiến của người làm chứng, đương sự thu thập chứng cứ từ người làm chứng thông qua: Văn bản trình bày của người làm chứng về nội dung vụ án. Trong trường hợp này đương sự có thể yêu cầu UBND cấp xã xác nhận chữ kí của người làm chứng trong văn bản trình bày của người làm chứng về những nội dung của vụ án. Lời trình bày của người làm chứng được ghi trong băng ghi âm, ghi hình, đĩa ghi âm, ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh. Trong trường hợp này, để lời trình bày của người làm chứng có giá trị chứng minh, đương sự cần có văn bản xác nhận của người làm chứng về xuất xứ của băng ghi âm, ghi hình, đĩa ghi âm, ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 5 Điều 95 BLTTDS năm 2015. Ngoài ra, để chứng cứ thu thập được từ người làm chứng hợp pháp, đương sự cần xác định người làm chứng theo quy định tại Điều 77 BLTTDS năm 2015. Theo đó, người làm chứng là người biết các tình tiết liên quan đến vụ án và không bị mất năng lực hành vi dân sự. Đối với người làm chứng là người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi thì khi lấy xác nhận của người làm chứng cần có người đại diện theo pháp luật của người làm chứng hoặc là người quản lí, trông nom người đó.
3.2 Yêu cầu CQ, tổ chức, cá nhân cho SC hoặc cung cấp những TL có liên quan đến việc giải quyết vụ việc
Yêu cầu cơ quan , tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ. Đương sự sử dụng biện pháp thu thập chứng cứ này trong trường hợp chứng cứ trong vụ án lại được lưu giữ tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền như tranh chấp về hợp đồng đã được công chứng nhưng hợp đồng bị thất lạc, mất… thì đương sự có thể yêu cầu văn phòng công chứng cho sao chụp bản hợp đồng đã công chứng được lưu tại văn phòng hoặc tranh chấp hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất thì đương sự yêu cầu UBND, sở tài nguyên môi trường cho sao chụp hồ sơ nhà, đất liên quan đến tranh chấp của mình. Trong một số trường hợp khác, đương sự cần biết số tiền, số tài khoản của bị đơn tại ngân hàng, tổ chức tín dụng để yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn khởi kiện hoặc sau khi toà án thụ lí vụ án… đương sự yêu cầu ngân hàng, tổ chức tín dụng cung cấp thông tin mà người khởi kiện yêu cầu. Khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan vụ án đang được giải quyết tại toà án, đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lí chứng cứ thực hiện theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và Điều 106 BLTTDS năm 2015 về hình thức yêu cầu cung cấp, trình tự, thủ tục cung cấp, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đảm bảo quyền tiếp cận thông tin. Theo đó, khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, đương sự phải làm văn bản yêu cầu ghi rõ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp; lí do cung cấp; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lí, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lí do cho người có yêu cầu.