Bộ luật tố tụng dân sự là một văn bản luật do Quốc hội ban hành quy định về trình tự, thủ tục, nội dung để tiến hành các hoạt động khởi kiện, điều tra, xét xử, thi hành án và các quan hệ pháp luật khác nảy sinh trong quá trình giải quyết vụ, việc dân sự.
Chuyên mục: "Văn bản luật tố tụng dân sự" cung cấp tất cả các văn bản pháp luật trong lĩnh vực tố tụng dân sự.
Bộ luật tố tụng dân sự là văn bản luật do Quốc hội ban hành quy định trình tự, thủ tục, nội dung tiến hành các hoạt động khởi kiện, điểu tra, xét xử, thi hành án và những quan hệ pháp luật khác nảy sinh trong quá trình giải quyết vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Luật tố tụng dân sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự.
Các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Các nguyên tắc này là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự.
Chứng minh trong tố tụng dân sự không chỉ có ý nghĩa đối với Tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự mà còn có ý nghĩa đối với các đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Phân tích và đánh giá quy định về chứng cứ, chứng minh trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS năm 2015 đã góp phần giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Bài viết xoay quanh vấn đề về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Lấy lời khai người làm chứng là hoạt động điều tra thu thập chứng cứ do người làm chứng đưa ra nhằm giải quyết vụ án. Vậy, trong hoạt động tố tụng dân sự, lấy lời khai thực hiện như thế nào? chủ thể nào có thẩm quyền lấy lời khai của các đương sự?
Trong thực tế có rất nhiều vụ việc xảy ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Việc xác định tưng vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án là rất quan trọng. Cần xác định đúng thẩm quyền giải quyết giúp việc tiến hành khởi kiện vụ án dân sự rút ngắn thời gian giải quyết vụ án.
Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó. Vậy, Tòa án sẽ thực hiện theo trình tự thủ tục nào để thụ lý việc dân sự.
Chương XXXVI Bộ Luật tố tụng dân sự quy định về tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự – Điều 418. Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận
Đình chỉ là một phương thức xử lý đặc biệt của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Trước đây, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế hay Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động chỉ quy định một loại đình chỉ duy nhất là đình chỉ giải quyết vụ án dưới hình thức “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.[1]
Tuyên án có thể hiểu là việc Tòa án sau khi làm việc theo thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, sau khi phân tích để làm rõ vụ việc thì đưa ra kết quả của việc xét xử đó đối với người vi phạm quy định pháp luật. Vậy theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nghị án và tuyên án được tiến hành ra sao?
Công ty Luật TNHH Minh Khuê tổng hợp một số nội dung liên quan tới vấn đề thẩm quyền của Toà án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nội dung bài viết dưới đây cũng bao gồm các câu hỏi của một số khách hàng thắc mắc về thẩm quyền của Toà án trong một số vụ việc cụ thể.
Nhằm cung cấp cho bạn đọc thêm tài liệu tham khảo về lĩnh vực pháp luật tố tụng dân sự, Luật Minh Khuê trân trọng giới thiệu nội dung cuốn sách "Lý giải một số vấn đề của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 từ thực tiễn xét xử" do TS.LS. Lưu Tiến Dũng và TS. Đặng Thanh Hoa đồng chủ biên.
Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã kế thừa và hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước đó. Xuất phát từ việc cụ thể hóa và phù hợp với pháp luật nội dung mới; khắc phục những vướng mắc thực thi trong thực tiễn từ Bộ luật tố tụng dân sự trước đây. Bài viết liệt kê cụ thể điểm mới đó:
Các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện nay đã đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn giải quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ.
Cơ quan tiến hành tố tụng là chủ thể của các quan hệ tố tụng và được giao những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định.Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là một trong các chủ thể của tố tụng hình sự, có vai trò quan trọng mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết các vụ án.
Giám hộ là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự (BLDS) nhằm mục đích để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự.
Người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi. Việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự được tiến hành theo thủ tục giải quyết việc dân sự.
Trong tố tụng dân sự, quyền tự định đoạt biểu hiện ở khả năng khi tham gia tố tụng, các đương sự tự do định đoạt các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước các xâm hại. Đó cũng là quan niệm chung nhất được pháp luật tố tụng dân sự của nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận, áp dụng và trở thành một nguyên tắc tố tụng cơ bản. Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự đã khái quát: