- 1.Mục đích điều chỉnh pháp lý quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài
- 2. Xác định phạm vi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong bộ luật dân sự năm 2015
- 3.Bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật về quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
- 4. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài xuất phát từ đòi hỏi của thực tế khách quan
- 5. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài phải tuân thủ theo nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận
1.Mục đích điều chỉnh pháp lý quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài
Sự hình thành và phát triển các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tô' nước ngoài là hệ quả tất yếu của các mốỉ quan hệ về nhiều mặt giữa các quốc gia. Quan hệ giữa các quốc gia càng phát triển thì các mối quan hệ dân sự có yếu tố nưốc ngoài cũng càng phát triển. Hai loại quan hệ này tác động qua lại và thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Mục đích chung và bao quát nhất, cơ bản nhất của việc điều chỉnh pháp lý các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tô' nước ngoài là nhằm thúc đẩy sự phát triển hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá giữa các quốc gia. Ngày nay, tất cả các quốc gia dù đã phát triển hay đang phát triển, dù giàu hay còn nghèo, đều ý thức được một cách sâu sắc ích lợi của việc phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá giữa các quốc gia, của việc hội nhập Vối nền kinh tế khu vực và thế giới. Vì vậy, việc điều chỉnh các mốì quan hệ xã hội phát sinh trong sinh hoạt quốc tế, dù ở góc độ công pháp quốc tế hay ồ góc độ tư pháp quốc tế cũng đều phải hướng vào mục đích thúc đẩy sự phát triển hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá giữa các quốc gia.
Để góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học - kỹ thuật và văn hoá giữa các quốc gia phù hợp với yêu cầu của
quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ vì lợi ích của từng quốc gia và của cả cộng đồng quốc tế, cần không ngừng nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.
Nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp lý cốc mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài có nghĩa là bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân, của chính bản thân quốc gia và của cả các chủ thể khác trong giao lưu dân sự quốc tế. Thông qua đó, thúc đẩy các chủ thể tham gia tích cực, mạnh dạn và ngày càng nhiều hơn vào việc thực hiện thực tế và cụ thể các mối quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế , thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá.
Mục đích trực tiếp và thiết thực của việc điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài là bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân, của bản thân quốc gia và cả của các chủ thể khác trong giao lưu dân sự quốc tế. sỏ dĩ như vậy là vì, một khi nhận biết được rằng nếu tham gia vào một quan hệ xã hội cụ thể mà các quyền và lợi ích hợp pháp của mình không được bảo vệ thì chắc chắn các chủ thể sẽ quyết định không tham gia nữa.
Điều đáng lưu ý ở đây là mỗi quốc gia không nên chỉ quan tâm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân của mình và của chính quốc gia mình. Trong việc điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, cần tôn trọng và quan tâm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cả cá nhân, pháp nhân nước ngoài và của chính bản thân quốc gia nước ngoài. Nếu không xử lý đúng đắn vấn đề này thì khó có thể nói đến việc khuyến khích, thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế phát triển để góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập với khu vực và thế giới.
2. Xác định phạm vi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong bộ luật dân sự năm 2015
3.Bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật về quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Cho đến nay, một số văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) hiện hành chưa có sự thống nhất với quy định về QHDS có yếu tố nước ngoài của BLDS. Việc này đã dẫn đến những bất cập trong quá trình áp dụng luật trên thực tế. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung các nội dung liên quan đến pháp luật áp dụng đối với QHDS có yếu tố nước ngoài, cụ thể như sau:
Thống nhất với quy định của BLDS về chủ thể QHDS có yếu tố nước ngoài giữa “người Việt Nam ở nước ngoài” với “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” trong quy định của các quy phạm pháp luật chuyên ngành
Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng
Trong lĩnh vực giáo dục
4. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài xuất phát từ đòi hỏi của thực tế khách quan
Để điều chỉnh và giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, một trong các cách phổ biến là quốc gia xây dựng một hệ thống các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật của mình và trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Điều này cũng đồng nghĩa với việc quốc gia thừa nhận và cho phép áp dụng luật nước ngoài và tất nhiên đây là một đòi hỏi thực tế khách quan đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện của quốc gia với nước ngoài.
Trước hết, việc áp dụng pháp luật nước ngoài xuất phát từ đòi hỏi của thực tế khách quan. Yếu tố nước ngoài ở đây là một trong ba yếu tố: chủ thể (hai bên không cùng quốc tịch hoặc ít nhất một bên là người Việt Nam định cư ở nước ngoài); khách thể của quan hệ ở nước ngoài; căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài.
Khi xuất hiện quan hệ tư pháp quốc tế thì hiện tượng xung đột pháp luật sẽ xảy ra vì khi đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh. Việc thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài hay không, áp dụng pháp luật nước ngoài nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể nào hoàn toàn thuộc về chủ quyền của các quốc gia. Tuy nhiên, trong xu hướng hiện nay, với mục đích tăng cường, củng cố và thúc đẩy sự phát triển bền vững các mối quan hệ quốc tế, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài.
5. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài phải tuân thủ theo nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận
Hơn nữa, quan hệ Tư pháp quốc tế với bản chất là quan hệ dân sự nên một trong những nguyên tắc điển hình đó là tôn trọng sự thỏa thuận. Do vậy nếu áp đặt việc áp đặt phải áp dụng pháp luật của quốc gia thì sẽ không dung hòa được lợi ích của các quốc gia có liên quan. Điều này giúp điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế được khách quan và công bằng hơn, đảm bảo tốt nhất lợi ích của công dân tham gia quan hệ dân sự quốc tế. Đồng thời, việc áp dụng pháp luật nước ngoài đảm bảo sự ổn định, củng cố và phát triển hợp tác về mọi mặt trong giao lưu dân sự giữa các quốc gia vì sự thịnh vượng chung của cả thế giới; đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện của quốc gia với nước ngoài.
Vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài chỉ được đặt ra khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu tới vì quy phạm này xác định hệ thống pháp luật cụ thể nào có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài hoặc có thể do các đương sự thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài. Quy phạm xung đột có thể được xây dựng trong hệ thống hệ thống pháp luật của quốc gia hoặc trong các điều ước quốc tế mà quốc gia tham gia gồm cả điều ước quốc tế song phương và đa phương.
Trong xu thế toàn cầu hóa và tăng cường hợp tác, các quốc gia cùng nhau thỏa thuận để ban hành nên các quy phạm xung đột giúp giải quyết xung đột pháp luật, do đó, các quốc gia phải thực hiện các cam kết của mình một cách tận tâm, thiện chí. Nếu quốc gia nào thiếu thân thiện trong việc thực hiện các cam kết thì chính quốc gia đó sẽ bị giảm sút uy tín cũng như ảnh hưởng xấu tới việc thiết lập quan hệ hợp tác với các quốc gia khác trên trường quốc tế.
Trên thực tế, Việt Nam cũng đã có một số quy định về vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài trong một số văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật dân sự 2015 số 91/2015/QH13 mới nhất áp dụng năm 2021(Điều 759), Luật thương mại (Điều 5), Luật hôn nhận và gia đình (Điều 101),… Theo đó, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp các văn bản pháp luật của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc trong trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên, các quy định này mới chỉ dừng lại ở lý thuyết và dường như chỉ được khai thác chủ yếu dưới góc độ nghiên cứu, giảng dạy mà lại được áp dụng rất hạn chế. Tại hội thảo “Một số vấn đề thực tiễn về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong Tư pháp quốc tế”, thẩm phán Ngô Thị Minh Ngọc thừa nhận “Chúng tôi chưa bao giờ áp dụng pháp luật nước ngoài khi giải quyết tranh chấp dân sự hay ly hôn”.
Thiết nghĩ đây là vấn đề cần khắc phục bởi việc áp dụng pháp luật nước ngoài trên cơ sở dẫn chiếu của quy phạm xung đột có thể bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp. Song song với đó, khi áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết vấn đề phát sinh cần phải luôn gắn với việc bảo đảm độc lập, chủ quyền, bình đẳng và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; bảo đảm sự an ninh, ổn định chế độ xã hội chủ nghĩa và nền tảng pháp luật của nhà nước ta.
Luât Minh Khuê ( Sưu tầm và biên tập )