Câu hỏi: Thưa Luật Minh Khuê, hiện tại tôi đang có một vấn đề vướng mắc về pháp lý mong muốn được Công ty Luật Minh Khuê hỗ trợ và giải đáp thắc mắc giúp tôi. Vấn đề của tôi cụ thể như sau: Tôi có đi làm ở công ty và được công ty tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và gần đây chị gái có bị bệnh nhưng chị lại không tham gia bảo hiểm y tế nên muốn mượn thẻ bảo hiểm y tế để đi khám chữa bệnh. Nhưng tôi lại không biết việc cho mượn này có vi phạm pháp luật hay không và nếu vi phạm thì tôi và chị gái tôi bị xử lý như thế nào? 
Rất mong nhận được phản hồi sớm nhất từ Công ty Luật Minh Khuê. Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty!

Trước tiên, Công ty Luật Minh Khuê xin chân thành cảm ơn Quý khách hàng đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê, với nội dung câu hỏi mà Quý khách hàng đã cung cấp cho Luật Minh Khuê, đội ngũ Luật sư Công ty chúng tôi đã nghiên cứu và giải đáp như sau: 

 

1. Căn cứ pháp lý

Luật bảo hiểm y tế năm 2008

Luật bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2014

Bộ luật hình sự năm 2015, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 2017

Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2018 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế

Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28 tháng 9 năm 2020 Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế

 

2. Luật sư tư vấn

Căn cứ theo quy định tại Điều 16 Luật bảo hiểm y tế năm 2008 (được sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2014) thì mỗi một cá nhân chỉ được cấp duy nhất một thẻ bảo hiểm y tế. Và khi người tham gia bảo hiểm y tế sử dụng các dịch vụ khám, chữa bệnh có sử dụng bảo hiểm y tế thì khi đến khám chữa bệnh người tham gia bảo hiểm y tế phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế có dán ảnh, đối với những trường hợp thẻ bảo hiểm y tế chưa có ảnh thì người tham gia bảo hiểm y tế phải xuất trình một trong các giấy tờ tùy thân có dán ảnh của mình do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Nhà nước cấp hoặc là phải cung cấp Giấy xác nhận của Công an xã/phường/thị trấn hoặc những loại giấy tờ khác có xác nhận của cơ sở giáo dục nơi quản lý học sinh, sinh viên và các giấy tờ để chứng minh nhân thân hợp pháp khác của người tham gia bảo hiểm y tế theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 146/2018/NĐ-CP 

Ngoài ra theo quy định theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 và Khoản 1 Điều 49 Luật bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2014 thì sẽ tạm giữ thẻ bảo hiểm y tế nếu trường hợp phát hiện người đi khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của người khác để hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế. Khi bị tạm giữ thẻ bảo hiểm y tế thì người có thẻ bảo hiểm y tế phải có trách nhiệm đến nhận là thẻ bảo hiểm y tế của mình và nộp phạt theo quy định của pháp luật. Mặt khác sẽ tùy vào mức độ vi phạm của người thực hiện hành vi mà người thực hiện hành vi sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 117/2020/NĐ-CP hoặc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015. Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 2017

2.1 Truy cứu trách nhiệm hình sự

Căn cứ theo quy định tại Điều 215 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 2017 quy định về tội gian lận bảo hiểm y tế có quy định người nào sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của người khác để khám chữa bệnh hưởng chế độ bảo hiểm y tế trái quy định mà chiếm đoạt số tiền bảo hiểm y tế từ 10 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 20 triệu đồng trở lên mà không thuộc các trường hợp là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi tham ô tài sản và hành vi làm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội gian lận bảo hiểm y tế với mức phạt như sau: 

  • Bị phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 thansg đến 02 năm khi thực hiện các hành vi sau đây và chiếm đoạt số tiền bảo hiểm y tế từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 20 triệu đến dưới 200 triệu đồng, cụ thể các hành vi: 

- Thực hiện hành vi lập hồ sơ bệnh án, kê đơn thuốc khống hoặc kê tăng số lượng hoặc thêm loại thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật, chi phí giường bệnh và các chi phí khác mà thực tế người bệnh không sử dụng

- Giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế hoặc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế được cấp khống, thẻ bảo hiểm y tế giả, thẻ bảo hiểm y tế đã bị thu hồi, thẻ bị sửa chữa, thẻ bảo hiểm y tế của người khác trong khám chữa bệnh hưởng chế độ bảo hiểm y tế trái quy định

  • Bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm khi thuộc các trường hợp

- Phạm tội có tổ chức

- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp

- Thực hiện hành vi vi phạm chiếm đoạt số tiền bảo hiểm y tế từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng 

- Thực hiện hành vi vi phạm gây thiệt hại về tài sản từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng 

- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt

- Tái phạm nguy hiểm

  • Bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm khi thuộc các trường hợp sau đây

- Thực hiện hành vi vi phạm chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế 500 triệu đồng trở lên

- Thực hiện hành vi vi phạm gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng trở lên

Ngoài mức hình phạt được nêu trên thì người thực hiện hành vi vi phạm có thể sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm

2.2 Xử phạt hành chính

Theo quy định tại Điều 84 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP có quy định trường hợp người nào cho người khác nượn thẻ bảo hiểm y tế hoặc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của người khác thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính tùy vào từng hành vi, cụ thể

  • Người thực hiện hành vi sẽ bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng đối với trường hợp hành vi vi phạm chưa làm thiệt hại đến quỹ bảo hiểm y tế
  • Người thực hiện hành vi sẽ bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với trường hợp hành vi vi phạm làm thiệt hại đến quỹ bảo hiểm y tế nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Ngoài mức phạt tiền được nêu ở trên thì người thực hiện hành vi vi phạm còn buộc phải hoàn trả lại đủ số tiền đã vi phạm vào tài khoản thu của quỹ bảo hiểm y tế khi hành vi vi phạm gây thiệt hại đến quỹ bảo hiểm y tế

Như vậy căn cứ theo các cơ sở pháp lý mà Công ty Luật Minh Khuê đã nêu ở trên thì việc Quý khách hàng cho chị gái mượn thẻ bảo hiểm y tế để hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế khi đi khám chữa bệnh thuộc các hành vi vi phạm quy định của Luật bảo hiểm y tế và pháp luật đã có các quy định về chế tài xử phạt đối với hành vi này một cách rõ ràng. Đối với người mượn thẻ bảo hiểm y tế của người khác để sử dụng tùy vào mức độ, tính chất của hành vi vi phạm người này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 84 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội gian lận bảo hiểm y tế theo quy định tại Điều 215 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 2017. Còn đối với người cho người khác mượn thẻ bảo hiểm y tế thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 84 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê về Mức xử phạt khi cho người khác mượn thẻ bảo hiểm y tế. Trường hợp Quý khách hàng còn bất cứ vướng mắc gì về nội dung nêu trên Quý khách hàng có thể vui lòng liên hệ trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài số: 19006162 để được hỗ trợ trực tiếp. Rất mong nhận được sự hợp tác từ Quý khách hàng. Trân trọng!