Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài là khả năng do pháp luật quy định của pháp nhân nước ngoài có quyền và nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch.

Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam.

1. Khái niệm pháp nhân nước ngoài

Trong bối cảnh các tổ chức tham gia vào các quan hệ kinh tế thương mại ngày càng phổ biến, để bảo đảm an toàn cho giao lưu dân sự, kých thích các hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển, các hệ thống pháp luật trên thế giới đều ghi nhận sự tồn tại hợp pháp của các tổ chức đó dưới khái niệm pháp nhân. Như vậy, pháp nhân là một tổ chức của con người do nhà nước thành lập hoặc thừa nhận và có tư cách pháp lý để tham gia vào các quan hệ pháp luật.

Pháp luật của các nhà nước khác nhau có những quy định khác nhau về điều kiện để trở thành pháp nhân. Ví dụ, theo quy định tại Điều 1842 Bộ luật dân sự Pháp, tất cả các công ti (kể cả các công ti do một người sáng lập theo Điều 1832 của Bộ luật dân sự Pháp) đều có tư cách pháp nhân kể từ thời điểm đăng ký (trừ công ti “dự phần”). Trong khi đó, theo quy định tại Điều 34, 35 Bộ luật dân sự và Điều 52 Luật thương mại Nhật Bản, các tổ chức có tư cách pháp nhân là các tổ chức được thành lập với mục đích công cộng hoặc mục đích thu lợi nhuận. Tại Việt Nam, Điều 74 Bộ luật dân sự 2015, quy định pháp nhân là một tổ chức được thành lập theo quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Pháp nhân có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, trừ trường hợp điều lệ hoặc luật có quy định khác. Pháp nhân sẽ nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Pháp nhân được chia thành nhiều loại khác nhau.

Theo quy định tại Điều 75, 76 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 pháp nhân được chia thành pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại. Pháp nhân thương mại là pháp nhân hoạt động vì mục tiêu chính là quốc gia khác thì pháp nhân đó đương nhiên được coi là pháp nhân nước ngoài. Hay nói một cách khác, quốc tịch của pháp nhân được coi là cơ sở quan ttọng để xác định pháp nhân đó có phải là pháp nhân nước ngoài hay không.

2. Cách xác định quốc tịch của pháp nhân

Là một tổ chức của con người do nhà nước thành lập hoặc thừa nhận nên pháp nhân luôn mang quốc tịch của quốc gia nhất định. Do vậy, khác với thể nhân, không có hiện tượng pháp nhân không có quốc tịch. Quốc tịch của pháp nhân là mối liên hệ pháp lý lâu dài, bền vững giữa pháp nhân với một quốc gia đã thành lập ra pháp nhân đó. Cụ thể, các vấn đề pháp lý liên quan đến thành lập, giải thể, cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân phải tuân theo quy định của nhà nước mà pháp nhân đó mang quốc tịch cho dù pháp nhân đó hoạt động trong nước hoặc ở nước ngoài. Ngoài ra, khi pháp nhân hoạt động tại nước ngoài, pháp nhân còn được quốc gia mà mình mang quốc tịch bảo vệ về mặt ngoại giao khi các quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân bị xâm phạm tại nước ngoài.

>> Xem thêm:  Chủ thể của quan hệ pháp luật là gì ? Quy định về chủ thể của quan hệ pháp luật

Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hoá, việc pháp nhân của một quốc gia này sang hoạt động tại lãnh thổ của quốc gia khác ngày càng trở nên vô cùng phổ biến. Sự xuất hiện của các công ti xuyên quốc gia trong hầu hết các hoạt động thương mại quốc tế trên phạm vi toàn cầu được xem như là sự phát triển tất yếu của nền kinh tế thế giới (ví dụ, Công ti Coca-Cola mang quốc tịch Hoa Kỳ, Hãng Toyota mang quốc tịch Nhật Bản nhưng lại có trụ sở và chi nhánh tại hầu hết các quốc gia hên thế giới). Trong bối cảnh đó, việc xác định quốc tịch của pháp nhân là hoàn toàn không đơn giản nhung lại có ý nghĩa rất quan họng để xác định sự tồn tại hợp pháp của pháp nhân, xác định quy chế pháp lý của pháp nhân. Ngoài ra, việc xác định chính xác quốc tịch của pháp nhân nước ngoài còn giúp cho quốc gia sở tại kiểm soát hoạt động của các pháp nhân, góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia và lợi ích kinh tế - xã hội của chính quốc gia đó.

Tùy từng trường hợp cụ thể các quốc gia có thể áp dụng tiêu chí này hay tiêu chí kia để xác định quốc tịch của pháp nhân. Ví dụ, Tư pháp quốc tế của Bỉ quy định:

“Theo quy định của luật này, nơi thành lập của pháp nhân được xác định trước hết trên cơ sở nơi đặt trung tâm quản lý của pháp nhân, cũng như nơi tiến hành hoạt động kinh doanh chính, và sau đó lả nơi có trụ sở chính”.

Tại Việt Nam, Điều 80 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“Pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam Phù hợp với quy định này, Điều 676 Bộ luật dân sự 2015 nêu rõ: “Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập”.

Đây là lần đầu tiên pháp luật Việt Nam trực tiếp ghi nhận tiêu chí để xác định quốc tịch của pháp nhân là “nơi thành lập pháp nhân”. Theo tiêu chí này, pháp nhân thành lập ở đâu thì pháp luật nước đó sẽ là căn cứ để xác định quốc tịch của pháp nhân. Tiêu chí này thể hiện rõ một trong các đặc điểm đặc thù của pháp nhân đó là bao giờ cũng do một nhà nước thành lập và thừa nhận. Quy định này giúp cho các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể để xác định quốc tịch của pháp nhân, từ đó xác định chính xác quy chế pháp lý của pháp nhân khi pháp nhân tham gia các giao dịch dân sự tại Việt Nam.

3. Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam

Địa vị pháp lý (“status” hay “legal status”) là một thuật ngữ có nguồn gốc từ La Mã cổ đại để đề cập đến các quyền tự do, quyền công dân và các quyền gia đình của con người trong thời kì này. Phát triển khái niệm này, ngày nay thuật ngữ “địa vị pháp lý” được sử dụng rất phổ biến để thể hiện vị trí, vai trò của chủ thể trong các quan hệ pháp luật và đi liền với nó là các quyền lợi và nghĩa vụ được nhà nước công nhận, bảo đảm thực hiện. Từ cách tiếp cận trên, khi nghiên cứu về địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài các nội dung

- Pháp luật của quốc gia sở tại sẽ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến phạm vi hoạt động của pháp nhân, các quyền và nghĩa vụ cụ thể của pháp nhân trên lãnh thổ của quốc gia đó.

Ví dụ, Công ty B mang quốc tịch Bỉ có chi nhánh tại Việt Nam, đối với các vấn đề liên quan đến thành lập và quyền năng chủ thể của chi nhánh, tài sản của chi nhánh phải tuân theo các quy định của pháp luật Bỉ, còn phạm vi hoạt động của chi nhánh, quyền và nghĩa vụ cụ thể của chi nhánh tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam.

Ngoài ra, khi pháp nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, địa vị pháp lý của pháp nhân còn chịu sự điều chỉnh trực tiếp bởi các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, như các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hiệp định tránh đánh thuế trùng, hiệp định thương mại... Hiện nay, khi thương mại ngày càng phát triển, hội nhập trở thành một yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của các quốc gia thì số lượng các điều ước tế được ký kết giữa các quốc gia để điều chỉnh các hoạt động kinh tế thương mại nói chung và các hoạt động của các pháp nhân nói riêng ngày càng trở nên rất phổ biến và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định địa vị pháp lý của pháp nhân tại quốc gia sở tại.

>> Xem thêm:  Các loại thương nhân theo quy định của pháp luật thương mại ?

4. Xác định năng lực chủ thể của pháp nhân nước ngoài

Đổ tham gia vào các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự (khả năng được hưởng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật - Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự (khoản 1 Điều 86 Bộ luật dân sự 2015). Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động, thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm đăng ký. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt hoạt động của pháp nhân.

phán của Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của Công ti X sẽ được xác định theo pháp luật của Singapore.

Bên cạnh nguyên tắc chủ đạo là luật quốc tịch của pháp nhân, pháp luật Việt Nam quy định trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam (khoản 3 Điều 676 Bộ luật dân sự 2015). Đây là quy phạm xưng đột một chiều chỉ rõ pháp luật được áp dụng là pháp luật của Việt Nam. Quy định này nhằm đảm bảo mọi hoạt động của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nan phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp này pháp nhân nước ngoài sẽ có các quyền và nghĩa vụ như pháp nhân Việt Nam (trừ trường hợp ngoại lệ).

Ví dụ, Công ti B mang quốc tịch Nhật Bản tiến hành các hoạt động đầu tư tại Việt Nam, năng lực pháp luật dân sự của Công ti B (quyền và nghĩa vụ) sẽ được xác định theo pháp luật Việt Nam. Theo đó cộng ti B sẽ có các quyền và nghĩa vụ như các công ti của Việt Nam trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 676 Bộ luật dân sự 2015 cho thấy để xác định năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam, tư phảp quốc tế Việt Nam kết họp giữa hai hệ thuộc là luật nơi pháp nhân mang quốc tịch và pháp luật Việt Nam. Quy định này là sự kế thừa có sửa đổi, bổ sung các nội dung được quy định tại Điều 765 Bộ luật dân sự 2005. Cụ thể, Điều 676 Bộ luật dân sự 2015 đã thay vì áp dụng “pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập” bằng quy định áp dụng “pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc tịch” để xác định năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân cũng như các nội dung pháp lý khác có liên quan. Việc ghi nhận trực tiếp hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân trong trường hợp này tạo điều kiện cho việc áp dụng và thực thi điều luật một cách thuận lợi và chính xác trong thực tiễn.

- Đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

- Đặt văn phòng đại diện, chi nhánh để tiến hành hoặc xúc tiến các hoạt động thương mại tại Việt Nam.

>> Xem thêm:  Không có tư cách pháp nhân có được tham gia đấu thầu ?

5. Hoạt động đầu tư kinh doanh của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam

Tại Việt Nam, pháp nhân nước ngoài thuộc mọi quốc tịch, mọi thành phần kinh tế đều có quyền đầu tư kinh doanh tại Việt Nam: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kình doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” (khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư 2014).

Theo quy định của Luật đầu tư 2014, pháp nhân nước ngoài muốn hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam phải được ,cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư “Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là văn bản, bản điện tử ghi nhận thông tin đăng ký của nhà đầu tư về dự án đầu tư” (khoản 6 Điều 3). Pháp nhân nước ngoài có thể tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam theo các hình thức sau:

- Thành lập tổ chức kinh tế bao gồm thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh (khoản 16 Điều 3 Luật đầu tư 2014).

- Đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế.

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng, bao gồm:

+ Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (hợp đồng PPP). Đây là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Điều 27 của Luật đầu tư (khoản 8 Điều 3 Luật đầu tư 2014).

+ Họp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế (khoản 9 Điều 3 Luật đầu tư 2014).

5.1 Văn phòng đại diện của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 07/2016/NĐ-CP (Nghị định được Chính phủ ban hành ngày 25/01/2016, quy định chi tiết Luật thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam), để được đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam pháp nhân đó phải được sở công thương hoặc ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất... của Việt Nam cấp phép. Điều kiện để cấp phép là pháp nhân đó phải được thành lập hoặc công nhận họp pháp theo pháp luật của nước tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đã hoạt động không dưới 01 năm. Văn phòng đại diện của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 17, Điều 18 của Luật thương mại Việt Nam.

>> Xem thêm:  Địa vị pháp lý của pháp nhân là gì ? Phân tích năng lực chủ thể và hoạt động của pháp nhân ?

5.2 Chi nhánh của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 07/2016/NĐ-CP, để được đặt chi nhánh tại Việt Nam pháp nhân nước ngoài phải được Bộ Công Thương của Việt Nam cấp phép. Điều kiện để cấp phép là pháp nhân đó phải được thành lập hoặc công nhận họp pháp theo pháp luật của nước mà nước đó và Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế, đã hoạt động không dưới 05 năm.

Trong thời gian hoạt động tại Việt Nam, chi nhánh của pháp nhân nước ngoài có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 19, Điều 20 Luật thương mại 2005.

Theo Điều 23 Luật thương mại 2005, pháp nhân nước ngoài sẽ chấm dứt hoạt động tại Việt Nam trong các trường họp sau:

- Hết thời hạn hoạt động ghi trong giấy phép;

- Theo đề nghị của pháp nhân và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp nhận;

- Theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền do vi phạm pháp luật và quy định của giấy phép;

Về tài sản (dưới đây gọi chung là quyền miễn trừ tư pháp). Cụ thể, quốc gia không bị mang ra xét xử tại toà án; không bị áp dụng các biện pháp đảm bảo sơ bộ: không bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án; tài sản của quốc gia là bất khả xâm phạm.

Tính chất đặc biệt này của quốc gia xuất phát từ đặc điểm khi tham gia vào các quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nói riêng quốc gia vẫn giữ nguyên thuộc tính chủ quyền của quốc gia và có toàn quyền quyết định các vấn đề đối nội và đối ngoại liên quan đến các hoạt động của quốc gia. Mặt khác, các quốc gia lại luôn luôn bình đẳng với nhau về chủ quyền và nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia lại là nền tảng trong quan hệ quốc tế. Điều này đã dẫn đến một hệ quả là trong quan hệ quốc tế (bao gồm cả các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài) các quốc gia không có quyền xét xử lẫn nhau, tranh chấp, bất đồng giữa các quốc gia sẽ được giải quyết thông qua thương lượng và hoà giải theo các nguyên tắc của luật quốc tế.

Các quy định về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia nước ngoài được ghi nhận khá phổ biến trong các hệ thống pháp luật trên thế giới. Cụ thể, một số nước đã ban hành Luật miễn trừ tư pháp dành cho quốc gia nước ngoài (Foreign States Immunities Act). Ví dụ, Luật miễn trừ quốc gia dành cho quốc gia nước ngoài của Hoa Kỳ năm 1976, Anh năm 1978, Singapore năm 1979, Canada năm 1982, Australia năm 1985... Hầu hết các đạo luật trên đều ghi nhận nguyên tắc cơ bản đó là quốc gia nước ngoài được quyền miễn trừ đối với thẩm quyền của toà án của quốc gia sở tại.[1] Tuy nhiên, một nội dung khác không kém phần quan trọng được ghi nhận trong các đạo luật nêu trên là quy định các trường hợp loại trừ quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia (Exceptions to immunity). Đây là các trường hợp mà khi phát sinh các vụ kiện liên quan đến quốc gia, quốc gia không được trừ tư pháp của quốc gia, nội dung tiếp theo sẽ tập trung nghiên cứu các quy định cơ bản của Công ước này.

>> Xem thêm:  Quốc tịch của pháp nhân là gì ? Pháp nhân nước ngoài là gì ?

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Pháp nhân là gì ? Quy định pháp luật về điều kiện hình thành pháp nhân