- 1. Một số chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đối với Chính phủ về giải quyết và kết thúc điều tra các vụ án tham nhũng
- 2. Chú trọng nâng cao tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế
- 3. Kinh nghiệm trong công tác giải quyết các vụ án về tham nhũng, kinh tế
- 3.1 Kinh nghiệm giải quyết án về tham nhũng, chức vụ trong giai đoạn điều tra và truy tố
- 3.2 Kinh nghiệm giải quyết các vụ án tham nhũng, chức vụ trong giai đoạn xét xử
1. Một số chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đối với Chính phủ về giải quyết và kết thúc điều tra các vụ án tham nhũng
Căn cứ vào Nghị quyết 96/2019/QH14 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án. Một số chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đối với Chính phủ như sau:
- Kịp thời hiện và xử lý nghiêm minh các vụ án về kinh tế, chức vụ, tham nhũng; nâng cao tỷ lệ giải quyết và kết thúc điều tra các vụ án tham nhũng những năm sau cao hơn năm trước.
- Kiên quyết áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, nhất là các vụ án kinh tế tham nhũng để bảo đảm thi hành án.
- Nâng cao chất lượng công tác điều tra, đẩy nhanh tiến độ điều tra các loại án.
- Nghiêm cấm bức cung, dùng nhục hình.
- Thường xuyên rà soát và tích cực xác minh những vụ án tạm đình chỉ điều tra để sớm phục hồi điều tra và báo cáo Quốc hội về kết quả rà soát, xử lý tại kỳ họp cuối năm.
- Tăng cường các biện pháp phòng, chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
- Tăng cường truy bắt đối tượng bị truy nã ngoài xã hội
- Giảm số người bị tạm giữ, tạm giam chết thuộc trách nhiệm quản lý của cơ sở giam giữ.
- Khắc phục tình trạng tạm giữ, tạm giam chung người trong cùng vụ án, người dưới 18 tuổi với người trên 18 tuổi.
- Tăng cường công tác quản lý giam, giữ; không để người bị tạm giam, tạm giữ trốn.
2. Chú trọng nâng cao tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế
Hiện nay, các chủ trương của Đảng có, trong đó Chỉ thị 04-CT/TW ngày 02/6/2021 của Ban bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế, Ban bí thư nhấn mạnh phải tăng cường nhận thức, phải coi thu hồi tài sản tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, ngay từ trong quá trình thanh tra, kiểm tra thay vì như trước kia trong các vụ việc chúng ta thường quan tâm nhiều đến việc xử lý cá nhân, tổ chức.
Thứ hai, rõ ràng về mặt thể chế chúng ta cũng có những hạn chế nhất định, chưa có những quy định để đưa ra các biện pháp cần thiết ngay tức thời để ngăn chặn việc tẩu tán tài sản. Hoặc là chúng ta có nhưng chỉ có bước đầu. Thí dụ, quy định liên quan đến quyền hạn của cơ quan kiểm sát tài sản, thu nhập là có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức liên quan áp dụng biện pháp tránh tẩu tán tài sản như phong tỏa tài khoản, không cho giao dịch, định giá tài sản...
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 mới đưa ra cơ chế là các cơ quan kiểm sát tài sản thu nhập có trách nhiệm không chỉ là kiểm soát phần "tĩnh" mà còn kiểm soát cả phần "động", tức là cả những biến động tài sản và đặc biệt là khi có "biến" nhận được yêu cầu của cơ quan, tổ chức trong quá trình phát hiện khi họ có quyền yêu cầu các cơ quan tổ chức liên quan như yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin hay đóng băng tài sản, yêu cầu cơ quan quản lý bất động sản, đăng ký tài sản không cho giao dịch một động sản, bất động sản nào đó.
Bên cạnh đó, các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự trong áp dụng các biện pháp khẩn cấp vẫn còn nhiều ràng buộc, khó khăn. Trước kia thường khi có án chúng ta mới thu hồi tài sản, như vậy phải trải qua một quá trình rất dài và kẻ tham nhũng đã kịp tẩu tán tài sản tham nhũng và chúng ta phải chịu hậu quả rất rõ ràng. Như vụ án Trịnh Xuân Thanh bị kết án phải nộp khoảng 130 tỷ đồng những thực tế cũng chỉ thu được khoảng 30 tỷ vì một vụ án qua rất nhiều khâu như điều tra, truy tố, xét xử, thậm trí còn sơ thẩm, phúc thẩm, cả quá trình đó nếu không có biện pháp ngăn chặn ngay thì khi đó thu hồi tài sản tham nhũng vô cùng khó khăn. Đây là những vấn đề mà chúng ta cần phải lưu tâm kể cả về mặt chỉ đạo, kể cả mặt luật pháp.
3. Kinh nghiệm trong công tác giải quyết các vụ án về tham nhũng, kinh tế
Với những giải pháp và nỗ lực đồng bộ của cả hệ thống chính trị nói chung, của các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng, nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế lớn trong thời gian qua đã được phát hiện, nhiều đối tượng phạm tội có chức vụ, quyền hạn cũng đã bị khởi tố, điều tra, xử lý nghiêm minh, được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ.
3.1 Kinh nghiệm giải quyết án về tham nhũng, chức vụ trong giai đoạn điều tra và truy tố
Trong nghiên cứu tài liệu điều tra vụ án:
Đối với các vụ án về tham nhũng, chức vụ, cần hết sức chú trọng việc đánh giá tài liệu thu thập được vì hành vi của các đối tượng/bị can là lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức thường rất tinh vi. Họ thường lợi dụng sự đan xen các quy định của pháp luật điều chỉnh lĩnh vực quản lý mà họ được giao để thực hiện hành vi sai phạm vì động cơ vụ lợi cá nhân. Vì vậy, quá trình điều tra thường khó đánh giá và "buộc" được ngay trách nhiệm của các đối tượng này theo dấu hiệu hình sự đang điều tra hoặc chuẩn bị khởi tố điêu tra. Để khai thác có hiệu quả tài liệu điều tra, Kiểm sát viên (KSV) cần lưu ý một số nội dung sau:
Thứ nhất, khi phối hợp với Điều tra viên (ĐTV) tham gia hoạt động khám xét hoặc thu nhập tài liệu trong quá trình điều tra, cần chú ý các tài liệu là tờ trình, dự thảo công văn, quyết đinh, đề án, thông báo kết luận các cuộc họp có ý kiến chỉnh sửa, bổ sung của bị can có chức vụ, quyền hạn không; thẩm quyền quyết định liên quan trực tiếp đến sai phạm (khi thực thi công vụ đã ban hành các chủ trương mang tính "áp đặt", "chỉ đạo", "chỉ định", "yêu cầu", "phải thực hiện" có nội dung trái nguyên tắc, không đúng quy trình, quy định của pháp luật liên quan đến nội dung sai phạm đã được khởi tố điều tra hoặc đang tiến hành điều tra). Từ đó, KSV thống nhất quan điểm đánh giá với ĐTV nhằm chứng minh bản chất của hành vi mà đối tượng/ bị can đã thực hiện là trái quy định của pháp luật, là tiền đè dẫn đến gây thất thoát tài sản cho nhà trước hoặc với mục đích "vụ lợi cá nhân".
Thứ hai, KSV phải tìm hiểu và nắm chắc quy trình thực hiện một công việc, một công đoạn của công việc, việc hoàn thiện một thủ tục hành chính, pháp lý có tính quyết định chủ trương đã ban hành hoặc hoàn thiện quy trình hay còn gọi là "kết thúc" một công việc liên quan trực tiếp đến nội dung sai phạm để giải đáp các câu hỏi. Quy trình giải quyết công việc này phải qua bao nhiêu công đoạn? Trách nhiệm thuộc về ai? Căn cứ nào để ban hành, xem xét, đánh giá các nội dung tờ trình, công văn, quyết định có đúng quy định pháp luật không? Nội dung đã ban hành có lợi cho nhà nước hay nhóm lợi ích hoặc có phải là tiền đề dẫn đến gây thiệt hại cho nhà nước không? Từ việc giải đáp các câu hỏi này, KSV yêu cầu hoặc cùng ĐTV trực tiếp thu thập để làm rõ, trong đó lưu ý các bút phê chỉ đạo của bị can và người có thẩm quyền quyết định tại các tài liệu đang được lưu trữ để làm rõ trách nhiệm cá nhân và hậu quả pháp lý của bút phê nêu trên. Điều này có ý nghĩa trong việc chứng minh trách nhiệm hình sự hoặc là "tiền đề" để bị can là cấp dưới lợi dụng ban hành các công văn, quyết định có nội dung trái với quy định của pháp luật vì động cơ vụ lợi hoặc tạo điều kiện về pháp lý để đem lại lợi ích cho cá nhân khác, đồng thời gây thiệt hại cho tài sản nhà nước. Từ đó, nhận diện được cách thức thực hiện tội phạm và cá thể hóa trách nhiệm hình sự, vai trò, vị trí trong vụ án đồng phạm, đồng thời xác định tội danh được chính sách.
Thứ ba, trong việc xác định thiệt hại và trưng cầu giám định, trước đây KSV chỉ kiểm sát sau khi Cơ quan điều tra chuyển giao bản kết luận giám định, định giá tài sản Giám định viên đã ban hành. Đây chính là thiếu sót của KSV khi phối hợp thực hiện vì nếu không kiểm sát được nội dung trưng cầu, định giá sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động điều tra của ĐTV và định hướng điều tra của Cơ quan điều tra. Do đó, KSV phải chủ động thống nhất với ĐTV về việc xác định thiệt hại trên cơ sở phân tích được hành vi của bị can so với tội danh đã phê chuẩn khởi tố điều tra, gắn trực tiếp với thiệt hại xảy ra hoặc là nguyên nhan chính dẫn đến hậu quả thiệt hại, trong đó, lưu ý mối quan hệ trực tiếp giữa động cơ, mục đích với hành vi khách quan thể hiện là đã cố ý thực hiện hành vi làm trái để tư lợi, hưởng lợi hoặc để chiếm đoạt hoặc gây thất thoát tài sản. Kiểm sát viên cũng phải tham gia trực tiếp vào nội dung dự thảo trưng cầu giám định của Cơ quan điều tra. Mặt khác, trong quá trình giám định của KSV phải phối hợp với ĐTV trao đổi với Giám định viên để thống nhất nội dung trưng cầu và tài liệu cung cấp giám định. Trước khi ban hành kết luận giám định, KSV phải yêu cầu Giám định viên chuyển bản dự thảo để cùng ĐTV nghiên cứu, có ý kiến phản hồi nhằm bảo đảm việc kết luận chính xác, có ý nghĩa chứng minh tội phạm. Đặc biệt, Giám định viên phải kết luận rõ hậu quả của việc có thiệt hại hoặc gây thất thoát xuất phát từ lỗi cụ thể thuộc về trách nhiệm của cá nhân nào? Nằm ở quy trình thiện nào trong tổng thể các sai phạm đã được điều tra? Đây là căn cứ pháp lý khi định tội danh, truy cứu trách nhiệm hình sự các bị can trong vụ án.
Trong việc ban hành bản yêu cầu điều tra:
Đối với vụ án về tham nhũng, chức vụ, việc ban hành nội dung yêu cầu điều tra có ý nghĩa rất lớn, tác động trực tiếp đến kế hoạch điều tra của Cơ quan điều tra và hoạt động điều tra của ĐTV, đồng thời sẽ là điểm "đột phá" của KSV khi chứng minh hành vi phạm tội; bởi vì tội phạm về tham nhũng, chức vụ thường có sự đan xen, gắn kết giữa hành vi quản lý kinh tế và hành vi liên quan đến quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn; phần lớn đối tượng phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn, có nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội theo chuyên ngành được giao.
Do vậy, để có cơ sở đánh giá các hành vi đã diễn ra có phải hành vi phạm tội hay không và phân biệt rõ hành vi nào gắn với động cơ vu lợi, lợi ích nhóm; cố ý thực hiện hay chỉ là thiếu trách nhiệm nhằm xác định đúng bản chất vụ việc chứng minh tội phạm thì trên cơ sở tội phạm đã được phê chuẩn, KSV cần tập trung nghiên cứu tài liệu, chứng cứ liên quan trực tiếp đến tội danh đã khởi tố vụ án, bị can để phân tích chính xác yếu tố lỗi, động cơ, mục đích sai phạm, bản chất của hành vi khách quan.... Từ đó, xây dựng được các nội dung yêu cầu điều tra cụ thể để định hướng và tác động trực tiếp đến hoạt động điều tra của ĐTV trong việc thu thập chứng cứ, trong đó cần chú trọng một số điểm chính sau:
- Làm rõ cách thức thực hiện tội phạm gắn liền với vị trí công tác, chức vụ được phân công.
- Đưa ra được những vấn đề yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu, định giá tài sản để chứng minh rõ nét phương thức, thủ đoạn phạm tội và xác định hậu quả thiệt hại.
- Đưa ra được những nội dung yêu cầu của Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ, chứng minh sự câu kết, hưởng lợi thông qua cách thức thực hiện hành vi trái công vụ....
Trong giai đoạn truy tố:
Đối tượng phạm tội trong loại án này những người có chức vụ, giữ vị trí chủ chốt trong các cơ quan, tổ chức kinh tế lớn, có ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng và được dư luận xã hội quan tâm. Vì vậy, khi xây dựng nội dung truy tố, KSV cần phải có kiến thức tổng hợp về pháp luật và lưu ý ảnh hưởng của họ đối với xã hội, cụ thể:
Thứ nhất, nội dung truy tố cần thể hiện được "bản chất bên trong" của hành vi mà đối tượng đã thực hiện, để khẳng định hành vi phạm tội đã diễn ra là "điểm xuất phát" và cũng là "điểm kết thúc" của vụ án. Phân tích có tính logic về vai trò của họ theo hướng xuyên suốt quá trình thực hiện tội phạm và các đồng phạm khác để mô tả được toàn bộ vụ án theo tội danh truy tố. Phải lựa chọn những căn cứ pháp lý "sát" nhất với hành vi của họ để dẫn chứng và chứng minh yếu tố "lỗi", khẳng định tội phạm đã được thực hiện và gây hậu quả thiệt hại đến tài sản của nhà nước.
Thứ hai, tập hợp các ý kiến của dư luân xã hội sau khi vụ án kết thúc điều tra, từ đó tham khảo, vận dụng những căn cứ có ý nghĩa, đúng pháp luật để đưa vào nội dung truy tố khi phân tích hành vi và hậu quả của vụ án.
3.2 Kinh nghiệm giải quyết các vụ án tham nhũng, chức vụ trong giai đoạn xét xử
Để thực hiện tốt vai trò công tố tại phiên toà KSV cần tập trung vào các nội dung sau:
Thứ nhất, cần xây dựng hệ thống chứng cứ theo phương pháp lập bảng biểu, phân chia theo từng tội danh trong vụ án, từng giai đoạn thực hiện tội phạm, từng bị can theo nội dung truy tố. Bảng biểu có các cột/mục trong đó trích dẫn chi tiết, chính xác hành vi truy tố theo bút lục có dẫn chiếu căn cứ pháp lý để lập luận, quy kết.
Thứ hai, trong việc soạn thảo đề cương khi tham gia xét hỏi, với loại án này, việc xét hỏi đối với bị can chính, có chức vụ cao nhất trong nhóm các bị can truy tố có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ cáo trạng vì nội dung khai của bị can tại phiên tòa sẽ tác động và có ảnh hưởng đến nhóm các bị can cấp dưới. Do vậy, KSV cần chuẩn bị kỹ nội dung các câu hỏi, đặc biệt trên cơ sở nội dụng truy tố cần lựa chọn nội dung cáo buộc tốt nhất để quy trách nhiệm và "chốt được các yếu tố: Lỗi trực tiếp; cố ý làm trái các quy định; vì động cơ vu lợi, tư lợi...
Thứ ba, việc đối đáp tranh tụng với Luật sư bào chữa tại phiên tòa: Trên cơ sở chuẩn bị tốt việc xây dựng hệ thống chứng cứ, đề cương xét hỏi như nêu trên, tại phần tranh tụng cần tập trung làm tốt vấn đề sau:
- Chọn tài liệu được xác định là chứng cứ tốt nhất và căn cứ pháp lý sát nhất với hành vi chính mà bị can đã thực hiện, gây ra hậu quả để chốt vấn đề yêu cầu đối đáp của Luật sư bào chữa theo nguyên tắc không xa rời chứng cứ và nội dung truy tố đối với bị can trong vụ án.
- Lựa chọn nội dung khai nhận của đồng phạm khác có trong hồ sơ vụ án và khai nhận tại phiên tòa, đồng thời chọn nội dung trong kết luận giám định tư pháp để lý giải, khẳng định tội phạm và hành vi đã thực hiện là nguyên nhân dẫn đến chuỗi hành vi vi phạm của đồng phạm khác, đồng thời gây thiệt hại trực tiếp đến tài sản cho nhà nước.
Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kì vấn đề pháp lý hoặc có câu hỏi cần được giải đáp hãy liên hệ qua số hotline: 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua lienhe@luatminhkhue.vn để được hộ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!