(trừ những trường hợp có giấy xác nhận từ chính quyền địa phương, hay không có sức khỏe lao động thì phải có giấy bệnh từ bác sĩ bệnh viện nhưng vẫn phải viết đơn trước 30 ngày thì không phải bồi thường hợp đồng). Công ty chỉ dán thông báo trong nhà xưởng và áp dụng không lên loa thông báo cho công nhân biết như những vấn đề khác và nói pháp luật qui định. Nhưng em bận công việc gia đình, chuyện cá nhân thì sao có giấy xác nhận từ chính quyền địa phương được ?

Mong luật sư giải đáp giúp em.

Em xin cảm ơn!

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Khuê. Trường hợp của bạn chúng tôi xin được đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật Lao động 2012;

Nghị định 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi thành một số nội dung của Bộ luật Lao động.

2. Ý kiến tư vấn

>> Xem thêm:  Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ? Mức bồi thường

Thứ nhất, về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Nếu hợp đồng lao động bạn ký với công ty là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi có một trong các lý do tại khoản 1 Điều 37 BLLĐ 2012 thì bạn chỉ cần thực hiện nghĩa vụ báo trước cho công ty ít nhất là 30 ngày.

Thứ hai, về vấn đề bận chuyện công việc, chuyện gia đình có thể là lý do để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không?

Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bản thân, gia đình có hoàn cảnh khó khăn như sau:

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Điểm d Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Phải nghỉ việc để chăm sóc vợ hoặc chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng, con đẻ, con nuôi bị ốm đau, tai nạn;

b) Khi ra nước ngoài sinh sống hoặc làm việc;

c) Gia đình gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc chuyển chỗ ở mà người lao động đã tìm mọi biện pháp nhưng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động.

Như vậy, nếu trường hợp của bạn thuộc một trong các lý do nêu trên thì bạn hoàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn. Ngoài ra, điều luật không có định bắt buộc bạn phải xin xác nhận về trường hợp này nên nếu không thể xin xác nhận bạn vẫn có thể nộp đơn xin nghỉ việc và công ty không có quyền yêu cầu bạn bồi thường khi bạn chấm dứt hợp đồng đúng luật.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Nghỉ việc và báo trước 30 ngày mà công ty vẫn yêu cầu phải đến hạn hợp đồng mới cho phép nghỉ hoặc phải bồi thường 15 ngày công thì có đúng không? . Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn luật Lao động về chấm dứt hợp đồng lao động, gọi:  1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký nội quy, thang bảng lương lao động mới nhất năm 2020 ?

>> Xem thêm:  Nghỉ việc không chốt bảo hiểm xã hội giờ phải làm sao?