1. Nghĩa vụ chứng minh tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật:

Theo quy định tại Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 – Xác định sự thật của vụ án thì được quy định cụ thể như sau:

Điều 15: Xác định sự thật vụ án:

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.

Như vậy theo quy định tại điều 15 về xác định sự thật vụ án thì trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc ở đây thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng : Cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Theo quy định trên thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, truy tố và xét xử. Ngoài ra, một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 35 BLTTHS năm 2015 như sau: Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát;Tòa án.

Người tiến hành tố tụng gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;

Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm:

- Các cơ quan của Bộ đội biên phòng;

- Các cơ quan của Hải quan;

- Các cơ quan của Kiểm lâm;

- Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển;

- Các cơ quan của Kiểm ngư;

- Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Các cơ quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản này được quy định tại Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Quy định tại điều 15 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về việc người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”, chính là một phần nội hàm của nguyên tắc suy đoán vô tội theo quy định tại Điều 13 BLTTHS năm 2015, đó là: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Theo quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015 thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, nhưng việc chứng minh tội phạm của các cơ quan này ở mỗi giai đoạn tố tụng có những đặc điểm khác nhau. Ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự và truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, còn ở giai đoạn xét xử, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và Hội đồng xét xử. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, do vậy, kể cả trong trường hợp người phạm tội không đưa ra được những chứng cứ để chứng minh là họ vô tội thì cũng không thể vì thế mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng kết tội họ.

 

2. Đối tượng chứng minh vụ án hình sự theo quy định của pháp luật:

2.1 Đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự tại Pháp

Nghiên cứu Bộ luật tố tụng hình sự Pháp năm 1996 thấy, trong Bộ luật này không có điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, vẫn có thể tìm thấy những sự kiện, tình tiết phải chứng minh được quy định gián tiếp trong một số điều luật của Bộ luật này, chẳng hạn như:

Tại khoản 1 và khoản 5 Điều 81 BLTTHS Pháp năm 1996 quy định:

- Dự thẩm tiến hành mọi hoạt động điều tra cần thiết để xác định sự thật theo đúng quy định của pháp luật

- Dự thẩm trực tiếp hoặc giao cho Sĩ quan cảnh sát tư pháp, theo quy định của khoản 4, hoặc giao cho bất cứ người nào có thẩm quyền theo quy định của Chính phủ tiến hành điều tra nhân thân cũng như hoàn cảnh kinh tế, gia đình và xã hội của bị can…

- Theo điều 94 của Bộ luật tố tụng hình sự Pháp quy định: “Việc khám xét được thực hiện tại bất cứ nơi nào có thể tìm ra những vật giúp cho xác định sự thật…”. Điều 103 quy định: “Người làm chứng tuyên thệ sẽ khai tất cả sự thật và chỉ khai sự thật. Dự thẩm hỏi họ, tên, tuổi, lý lịch, nghề nghiệp, chỗ ở của người làm chứng, hỏi xem người làm chứng có quan hệ bà con thân thuộc với các bên đương sự hay không, nếu có thì quan hệ giữa người làm chứng và bên đương sự ở mức độ nào. Câu hỏi và câu trả lời phải được ghi vào biên bản”. Khoản 1 Điều 116 quy định: “Trong lần hỏi cung đầu tiên, dự thẩm xác định căn cước của bị can…”.

- Điều 176 quy định: “Dự thẩm kiểm tra các yếu tố cấu thành tội phạm hiện hữu chống lại bị can để trên cơ sở đó xác định tội phạm”. Điều 177 quy định: “Nếu các sự kiện xảy ra không cấu thành trọng tội,… hoặc vi cảnh hoặc nếu chưa xác định được người phạm tội hoặc chưa đủ chứng cứ buộc tội bị can, thì dự thẩm ra quyết định miễn tố…”. Khoản 1 Điều 212 quy định: “Nếu xét thấy các sự kiện,… hoặc chưa tìm ra người phạm tội… thì Tòa điều tra phúc thẩm tuyên bố đình chỉ điều tra”. Điều 348, 349 quy định: “Chủ tọa phiên tòa nêu các vấn đề mà Tòa đại hình và Bồi thẩm đoàn phải xem xét. Mỗi tình tiết tăng nặng phải được nêu thành một vấn đề. Mỗi lý do miễn hay giảm hình phạt theo quy định của pháp luật cũng được nêu thành một vấn đề”. Điều 397 quy định: “Nếu bị cáo được đưa ra Tòa tiến hành xét xử theo quy định tại các Điều 395 và Điều 396 khoản 3 thì Chánh án Tòa tiến hành sẽ xác định căn cước của bị cáo sau khi thông báo cho Luật sư của bị cáo…”; Điều 468 của Bộ luật quy định: “Nếu bị cáo được miễn hình phạt theo quy định của pháp luật thì Tòa án tuyên bố bị cáo có tội và miễn hình phạt cho bị cáo…”.

 

2.2 Đối tượng chứng minh tố tụng hình sự tại Mỹ

Pháp luật tố tụng hình sự Mỹ không có điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, nghiên cứu Các nguyên tắc liên bang về tố tụng hình sự Mỹ năm 2006 , đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự được quy định gián tiếp trong nội dung của một số nguyên tắc, chẳng hạn như:

Điểm 1 khoản a Nguyên tắc 4 quy định: “Khi thẩm phán ban hành lệnh bắt thì một lệnh bắt phải: Bao gồm tên bị cáo hoặc, trường hợp không biết tên thì có một tên nào đó hoặc sự mô tả mà theo đó có thể xác định được bị cáo một cách chắc chắn. Mô tả về tội phạm bị tố giác trong đơn”.

Điểm 1 khoản a Nguyên tắc 5 quy định về trình diện ban đầu như sau: “Nếu bị cáo bị bắt tại quận được cho là nơi đã xảy ra hành vi phạm tội: Việc trình diện ban đầu phải ở tại quận đó; và nếu thẩm phán sơ thẩm không có mặt vì lý do chính đáng, việc trình diện ban đầu có thể tới một nhân viên tư pháp địa phương hoặc bang”. Điểm 2 khoản a của nguyên tắc này quy định: “Nếu bị cáo bị bắt tại một quận khác với nơi được cho là đã xảy ra tội phạm, việc trình diện ban đầu phải: Ở tại quận nơi tiến hành bắt; hoặc tại quận kế bên nếu việc trình diện có thể tiến hành kịp thời hơn”. Khoản e Nguyên tắc 5.1 quy định về xét hỏi sơ bộ: “… Nếu thẩm phán sơ thẩm thấy có căn cứ là có hành vi phạm tội xảy ra và bị cáo đã thực hiện hành vi này, thẩm phán sơ thẩm phải ngay lập tức yêu cầu bị cáo có mặt để tiến hành các tiến hành tố tụng tiếp theo”. Khoản f nguyên tắc này quy định: “Nếu Thẩm phán sơ thẩm thấy không có căn cứ để xác định có hành vi phạm tội xảy ra hoặc bị cáo đã thực hiện hành vi này, thẩm phán sơ thẩm phải bác đơn tố giác và trả tự do cho bị cáo. Việc trả tự do này không ảnh hưởng đến quyền của Chính phủ trong việc truy tố bị cáo về cùng một tội đó sau này”. Điểm 1 khoản c Nguyên tắc 7 quy định: “Cáo trạng và thông báo phải bằng văn bản dễ hiểu, chính xác và nhất quán bao gồm các yếu tố cấu thành tội phạm và phải được Luật sư Chính phủ ký mà không cần phải có mở đầu hoặc kết luận một cách chính thức. Một tội danh truy tố có thể kết hợp bằng một dẫn chiếu đến một cáo buộc tại một Toà án khác. Một luận điểm truy tố có thể cho rằng phương thức phạm tội của bị cáo chưa được làm rõ hoặc tội phạm được thực hiện bằng một hoặc nhiều phương thức cụ thể. Đối với mỗi tội danh, bản cáo trạng hoặc thông báo phải trích dẫn chính thức hoặc theo tập quán các luật, nguyên tắc, quy định, hoặc các quy định khác của luật mà được xác định là bị cáo vi phạm…”.

 

2.3 Đối tượng chứng minh vụ án hình sự tại Việt Nam

Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự bao gồm những sự kiện và tình tiết khác nhau; mỗi sự kiện, tình tiết nói riêng cũng như toàn bộ vụ án đều phải được nghiên cứu, làm sáng tỏ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện và chính xác. Để chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự thì vấn đề quan tâm hàng đầu chính là các cấu thành tội phạm. Cấu thành tội phạm chính là tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. Tuy nhiên, không phải bất cứ cấu thành tội phạm nào cũng có những dấu hiệu bắt buộc giống nhau; có những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội phạm, có những dấu hiệu có trong cấu thành tội phạm của tội này nhưng lại không có trong cấu thành tội phạm của tội khác. Song để chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự thì đối với bất cứ một tội phạm nào, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều phải chứng minh được những vấn đề sau:

– Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm;

– Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm;

– Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm.

 

3. Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 – Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự thì:

Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:

- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

- Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

-Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

- Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự. Nếu còn gì vướng mắc quý khách có thể liên hệ đến hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ. Trân trọng./

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)