1. Nghĩa vụ liên đới là gì?

Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).

Khoản 1 Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

"Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ."

Có thể thấy, để quyền dân sự của các chủ thể được bảo đảm, trong một số trường hợp, nghĩa vụ nhiều người sẽ được xác định là nghĩa vụ dân sự liên đới nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Mục đích của việc xác định một nghĩa vụ liên đới khi có nhiều người tham gia quan hệ nghĩa vụ là buộc những người có nghĩa vụ phải cùng nhau gánh vác toàn bộ nghĩa vụ nhằm bảo đảm quyền lợi cho chủ thể có quyền được trọn vẹn, kể cả khi có một trong số những người có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, trong quan hệ nghĩa vụ liên đới, những người có nghĩa vụ luôn luôn liên quan với nhau trong cả quá trình thực hiện toàn bộ nghĩa vụ cũng như quyền yêu cầu của những người có quyền luôn được coi là một thể thống nhất.

Nghĩa vụ dân sự liên đới là loại nghĩa vụ nhiều người, trong đó, một trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ hoặc một trong số những người có quyền đều có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

2. Căn cứ nào làm phát sinh nghĩa vụ liên đới?

Điều 275 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

"Điều 275. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ

Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:

1. Hợp đồng.

2. Hành vi pháp lý đơn phương.

3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.

4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.

6. Căn cứ khác do pháp luật quy định."

Như vậy, có thể thấy căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ liên đới có thể thông qua 06 trường hợp: Hợp đồng, Hành vi pháp lý đơn phương; Thực hiện công việc không có ủy quyền; Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; Căn cứ khác do pháp luật quy định.

3. Nghĩa vụ liên đới được thực hiện như thế nào?

Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

"1. Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ

2. Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.

3. Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.

4. Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ."

Thực hiện nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ liên đới và có nhiều người có nghĩa vụ thì những người đó được gọi là người có nghĩa vụ liên đới. Vì vậy, người có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số họ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Nếu một trong số những người có nghĩa vụ thực hiện phần nghĩa vụ của họ mà những người khác chưa thực hiện thì quan hệ nghĩa vụ giữa người đã thực hiện với người có quyền vẫn chưa được coi là chấm dứt. Nghĩa là, người có nghĩa vụ không những phải thực hiện phần của mình mà còn phải thực hiện thay cho người có nghĩa vụ khác khi người đó không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.

Nếu một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì quan hệ nghĩa vụ dân sự liên đới giữa những những người có nghĩa vụ (kế cả những người chưa được thực hiện) với người có quyền được chấm dứt. Đồng thời, sẽ phát sinh một nghĩa vụ hoàn lại, trong đó người đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầi người chưa thực hiện nghĩa vụ phải thanh toán phần nghĩa vụ mà người này đã thực hiện cho họ.

Nếu người có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ mà sau đó lại miến việc thực hiện cho người đó thì nghĩa vụ dân sự được chấm dứt toàn bộ. Mặt khác, nếu người có quyền chỉ miến việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có ngĩa vụ liên đới với riêng phần của họ thì những người khác vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ còn lại.

Khi quan hệ nghĩa vụ được xác định là nghĩa vụ liên đới mà có nhiều người có quyền thì họ được gọi là người có quyền liên đới. Vì vậy, một trong số những người đó đều có thể yêu cầu bên có nghĩa vị dân sự phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ mà không cần có sự uỷ quyền của những người có quyền liên đới khác. Nghĩa là, người có quyền không những có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ đối với phần quyền của mình mà còn có quyền yêu cầu bên đó phải thực hiện trước mình phần nghĩa vụ đối với những người có quyền khác.

Người có nghĩa vụ có thể thực hiện nghĩa vụ cho từng người có quyền những cũng có thể thực hiện toàn bộ nghĩa vụ cho một trong số những người có quyền liên đới. Khi nghĩa vụ được thực hiện xong, dù rằng việc thực hiện đó chỉ cho một người có quyền thì nghĩa vụ liên đới vẫn chấm dứt toàn bộ. Đồng thời phát sinh một nghĩa vụ hoàn lại, trong đó người có quyền nào đã tiếp nhận sự thực hiện nghĩa vụ phải thanh toán cho những người có quyền khác phần quyền mà mình đã nhận thay họ.

Nếu một trong số những người có quyền liên đới miễn cho người có nghĩa vụ việc thực hiện nghĩa vụ đối với phần quyền của mình thì người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với những người có quyền liên đới khác.

Nếu một trong số những có quyền liên đới miễn cho riêng một người trong số những người có nghĩa vụ đối với riêng phần quyền của mình thì riêng người có nghĩa vụ được miễn không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình đối với phần quyền của người đã miễn.

4. Nghĩa vụ dân sự liên đới và một số bất cập từ thực tiễn thi hành

4.1. Khó tổ chức thi hành nghĩa vụ liên đới

Thực tiễn tổ chức thi hành án cho thấy, việc thực hiện nghĩa vụ liên đới là rất khó khăn, đặc biệt là đối với trường hợp bản án, quyết định đã xác định rõ nghĩa vụ của từng người (nghĩa vụ liên đới đã phân chia theo phần),

Thực tế, việc yêu cầu một hoặc một số người bất kỳ có điều kiện thi hành án trong số những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thường chỉ có thể thực hiện được nếu họ tự nguyện thi hành thay cho người khác. Trường hợp họ không tự nguyện thi hành thay thì rất khó có thể thực hiện được vì họ đã thi hành xong phần nghĩa vụ của mình theo quyết định của bản án, để họ thi hành tiếp phần nghĩa vụ của người khác là rất khó khăn. Trong những trường hợp này, người phải thi hành án thường không tự nguyện thi hành, thậm chí còn khiếu nại gay gắt, chống đối việc thi hành án.

Một vấn đề đặt ra là sau khi một người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án cho những người khác thì người đó sẽ yêu cầu những người khác hoàn lại như thế nào? Mặc dù Điều 288 BLDS năm 2015 có quy địnhTrường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.”Tuy nhiên hành trình khởi kiện để đòi thanh toán khoản tiền này là rất gian nan, và khả năng thu hồi gần như là bằng không, nhất là khi người được thi hành thay không hề có điều kiện thi hành án.

4.2. Vướng mắc trong việc đình chỉ thi hành án liên quan đến nghĩa vụ liên đới

Điểm a Điều 50 Luật Thi hành án dân sự (Luật THADS) quy định: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế. Tuy nhiên việc đình chỉ thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án trong trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới bị chết theo quy định tại Điều 50 Luật THADS còn có nhiều quan điểm khác nhau.

Quy định này cũng gặp vướng mắc khi thực hiện chuyển giao nghĩa vụ thi hành án. Theo Điều 54 Luật THADS và Điều 15 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật về thừa kế. Tuy nhiên, trong trường hợp một người đã thi hành nghĩa vụ liên đới mà muốn yêu cầu những người thừa kế của người có nghĩa vụ liên đới khác hoàn trả phần nghĩa vụ mà họ đã thực hiện thay thì phải thực hiện như thế nào? Theo quy định thì trường hợp này có thể phải khởi kiện ra Tòa án để thụ lý giải quyết theo một vụ việc khác, tuy nhiên việc khởi kiện tại Tòa án là rất gian nan và sẽ là “ bất hợp lý” đối với người có ý thức chấp hành pháp luật đã thi hành xong nghĩa vụ của mình nhưng vẫn phải thi hành thay cả phần của những người có nghĩa vụ liên đới.

Đối với việc một trong số những người có nghĩa vụ liên đới bỏ địa phương, đi đâu không xác định được địa chỉ hoặc chết (không để lại tài sản và cũng không có người thừa kế) - cần có hướng dẫn thi hành đối với trường hợp này. Mặt khác đối với nghĩa vụ liên đới đã phân chia được theo phần cần có phương án giải quyết phù hợp như có thể tuyên rõ trong bản án đối với nghĩa vụ liên đới đã phân chia theo phần, người đã thi hành xong phần nghĩa vụ của mình không phải thi hành thay phần nghĩa vụ của người khác, đảm bảo tính khả thi trong việc thi hành án và cũng đảm bảo quyền lợi cho những người phải thi hành án có ý thức chấp hành pháp luật, đã tự nguyện thi hành xong nghĩa vụ thi hành án của mình.

4.3. Vướng mắc trong ủy thác thi hành án đối với nghĩa vụ liên đới

Theo Điều 55 Luật THADS, trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở các địa phương khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan THADS ủy thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan THADS thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành.

Trường hợp những người phải thi hành nghĩa vụ liên đới có tài sản ở nhiều nơi, cơ quan THADS thực hiện ủy thác theo thứ tự quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP( được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP) để lựa chọn nơi ủy thác thi hành án. Cụ thể: Thứ nhất,theo thỏa thuận của đương sự; Thứ hai, nơi có tài sản đủ để thi hành án; Thứ ba: Nơi có tổng giá trị tài sản lớn nhất.

Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau mà tài sản ở địa phương nhận ủy thác không đủ để thi hành án thì cơ quan THADS nơi nhận ủy thác có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án đối với tất cả những người, tài sản có liên quan đến việc thi hành án để tránh trường hợp tẩu tán, trốn tránh việc thi hành án (Điều 34 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

Tuy nhiên, việc xác định được nơi có điều kiện thi hành án vẫn còn có nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian do việc xác minh điều kiện thi hành án phải tiến hành ở nhiều địa phương khác nhau. Việc lựa chọn nơi để ủy thác đối với các trường hợp nhiều người cùng liên đới thực hiện nghĩa vụ cũng gặp vướng mắc do chưa có quy định pháp luật cụ thể trong việc xác định giá trị tài sản cũng như chi phí cho việc xác định giá trị tài sản đối với các trường hợp này.

4.4. Về việc xác nhận kết quả thi hành án đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới.

Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ( sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/ NĐ-CP) trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới thì thủ trưởng cơ quan THADS ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới. Trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định thi hành án đối với người đó( Khoản 2 điều 1 Thông tư số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC). Vậy trong trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà một người đã thi hành toàn bộ nghĩa vụ cho những người còn lại thì việc xác nhận kết quả thi hành án đối với các đối tượng còn lại sẽ được thực hiện như thế nào? Đây là một vấn đề cần có hướng dẫn cụ thể hơn. Có quan điểm cho rằng: Cần bổ sung quy định trên về việc ra quyết định thi hành án, bởi vì khi theo quy định tại Điều 53 Luật THADS “đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án” ,( đương sự bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án) nếu cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định thi hành án đối với một người trong số những người có nghĩa vụ liên đới sẽ không có căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của những người có nghĩa vụ liên đới còn lại. Do đó đối với trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một người thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì quyết định thi hành án vẫn cần ghi rõ tất cả những người có nghĩa vụ liên đới để đảm bảo tính liên đới và có căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ của họ đối với việc thi hành án, đồng thời cũng là căn cứ để thực hiện việc xác nhận kết quả thi hành án sau này.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)