1. Quy định chung về nghĩa vụ

Mối quan hệ phát sinh giữa một hay nhiều chủ thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc, thực hiện một hành vi hoặc không được làm một công việc, một hành vi, vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền). Khái niệm này thể hiện sự ràng buộc giữa các bên có liên quan trong những mối quan hệ cụ thể, trước hết là một phạm trù đạo đức học phản ánh trách nhiệm của chủ thể - một cá nhân, một tập đoàn, một giai cấp, một dân tộc, đối với những việc phải làm trong những điều kiện xã hội cụ thể, trước một tình hình xã hội nhất định tại một thời điểm nhất định.

Trong đời sống nhà nước - pháp luật, nghĩa vụ là khái niệm được sử dụng rất phổ biến nhất là trong lĩnh vực giao lưu dân sự, trong đó chủ yếu là hợp đồng dân sự (như hợp đồng mua, bán, vay mượn...), hành vi dân sự đơn phương (như lập di chúc, hứa thưởng và thi có giải...), chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, gây thiệt hại do hành ví trái pháp luật, thực hiện công việc không có uỷ quyền...). Về đối tượng của nghĩa vụ, đó có thể là tài sản, công việc phải làm hoặc không được, làm như trong lĩnh vực nghĩa vụ dân sự, các đợi tượng này phải được chỉ định đích xác để thuận lợi trong việc thực hiện và tránh xảy ra tranh chấp (ví dụ: hợp đồng mua bán tài sản, mua bán là vật đặc định...). Ngoài ra, đối tượng của nghĩa vụ còn là những giá trị không phải là tài sản như nghĩa vụ công dân (nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tôn trọng, chấp hành pháp luật).

Thông thường, nghĩa vụ luôn đi đôi với quyền như quyền công dân đi liền với nghĩa vụ công dân: làm nghĩa vụ thì phải được hưởng quyền. Một chủ thể làm nghĩa vụ là để thoả mãn nhu cầu, đòi hỏi, lợi ích của một chủ thể khác có quyền như người vay nợ có nghĩa vụ trả nợ cho người cho vay, người có quyền đòi khi nợ đến ngày phải trả được thoả thuận từ trước.

Nghĩa vụ được định nghĩa tại Điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

"Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thế khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).

2. Nghĩa vụ riêng rẽ là gì?

Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ là nghĩa vụ có nhiều người tham gia, trong đó các chủ thể cùng thực hiện quyền hoặc cùng thực hiện nghĩa vụ, nhưng phần quyền hoặc nghĩa vụ của mỗi chủ thể là độc lập và riêng biệt với nhau. (Điều 288 Bộ luật dân sự 2015)

Theo đó ta có thể hiểu đơn giản nghĩa vụ riêng rẽ đó là các cá nhân thực hiện mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ ví dụ như  A, B, C cùng nhận trang trí một ngôi nhà trong đó A nhận lăn sơn, B nhận trang trí đèn, C nhận trang trí tường nhà. Như vậy A, B, C cùng nhận nhiệm vụ trang trí nhưng nhiệm vụ của mỗi người riêng rẽ với nhau.

3. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ

Theo quy định tại Điều 278 Bộ Luật Dân sự 2015 về Thời hạn thực hiện nghĩa vụ như sau:

“1. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Trường hợp bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn.

3. Trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.”

Như vậy có thể thấy căn cứ vào quy định trên thì giới hạn thời gian để các bên thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ cũng vậy, thông thường do các bên chủ thể thỏa thuận về nghĩa vụ riêng rẽ sẽ được thực hiện trong thời gian cụ thể nào. Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật quy định hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền ấn định khoảng thời gian này, các bên chủ thể sẽ phải thực hiện theo. Xét về nguyên tắc, bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác hoặc luật khác có liên quan quy định khác. Điều này được giải thích, khi pháp luật quy định bên có nghĩa vụ phải thực hiện trước hoặc sau thời hạn nhất định thì lúc đó các bên trong quan hệ nghĩa vụ phải thực hiện theo nguyên tắc này.

Theo đó, đối với thời gian để thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ cũng vậy, có thể dựa trên quy định trên đó là các bên thỏa thuận với nhau thời hạn thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ. Khi các bên không thỏa thuận hoặc pháp luật không quy định về thời hạn thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.

4. Đặc điểm của nghĩa vụ dân sự riêng rẽ

Đây là quan hệ nghĩa vụ dân sự trong đó có nhiều người cùng có nghĩa vụ với bên có quyền. Nghĩa vụ riêng rẽ là loại nghĩa vụ nhiều người; trong đó mỗi một người trong số những người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình; hoặc mỗi người trong số những người có quyền chỉ có thể yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho riêng phần quyền của mình. 

Mỗi người có nghĩa vụ riêng rẽ với nhau và chỉ thực hiện phần nghĩa vụ của mình. Bản chất của loại nghĩa vụ này là không có sự liên quan lẫn nhau giữa những người cùng thực hiện nghĩa vụ; cũng như không có sự liên quan trong việc thực hiện quyền của những người có quyền. Trong trường hợp, người nào thực hiện xong nghĩa vụ của mình thì quan hệ nghĩa vụ giữa người đó với người có quyền sẽ chấm dứt. Họ không phải chịu trách nhiệm đối với phần nghĩa vụ mà những người có nghĩa khác chưa thực hiện. Nếu nhiều người có quyền thì mỗi người chỉ có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho phần quyền riêng của mình, không được phép yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ còn lại của những người khác.

5. Nghĩa vụ riêng rẽ được thực hiện như thế nào?

5.1. Các trường hợp pháp sinh nghĩa vụ dân sự riêng rẽ

+ Trường hợp do các bên thỏa thuận 

+ Trường hợp các bên không thỏa thuận, pháp luật không quy định là liên đới.

Ví dụ về nghĩa vụ dân sự riêng rẽ. A là chủ sở hữu công trình đầu tư xây dựng. A ký hợp đồng hoàn thiện thi công với B, C, D. Theo đó, B thi công lăn sơn; C thi công lắp đặt đường điện, nước; D thi công phần nội thất. Khi đó A đã xác lập nghĩa vụ dân sự riêng rẽ với B,C,D, và họ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ làm công việc riêng của mình.

5.2. Thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ như thế nào?

Theo quy định tại Điều 287 Bộ luật Dân sự 2015 về Thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ:

Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ, nhưng mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ thì mỗi người chỉ phải thực hiện phẩn nghĩa vụ của mình.”

- Trong nghĩa vụ riêng rẽ:

Có nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ: Đây là loại nghĩa vụ được xác định là nhiều người. Theo đó có thể phát sinh các quan hệ giữa các chủ thể sau (i) Nhiều người có nghĩa vụ với một người có quyền. Ví dụ, A, B, c thực hiện ký các hợp đồng tín dụng vay Ngân hàng X; (ii) Nhiều người có nghĩa vụ với nhiều người có quyền. Ví dụ, M, N, H thực hiện ký các hợp đồng tín dụng vay Ngân hàng X, Y, Z; (iii) Một người -CÓ nghĩa vụ với nhiều ngưòi có quyền. Ví dụ, T thực hiện ký hợp đồng tín dụng vay K, G, E. Đặc điểm này của nghĩa vụ riêng rẽ giúp phân biệt với loại nghĩa vụ một người, nghĩa vụ hoàn lại, nghĩa vụ bổ sung…

Mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ: về nguyên tắc, nếu pháp luật không có quy định khác hoặc các bên trong quan hệ nghĩa vụ không thỏa thuận khác mà phát sinh nghĩa vụ nhiều người thì mỗi ngưòi được xác định là có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ nhau. Như  các ví dụ trên, mỗi người đều được xác định là có những phần nghĩa vụ nhất định với từng chủ thể mang quyền. Mối quan hệ của những ngưòi mang nghĩa vụ ở thực tế có thể được xác định là gần gũi, quen biết nhưng khi đã xác lập quan hệ nghĩa vụ, họ là một chủ thể độc lập tự tạo ra cho mình những phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ.

Mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình: Điểm khác biệt cơ bản giữa nghĩa vụ riêng rẽ và các loại nghĩa vụ khác ở chỗ, khi phát sinh loại nghĩa vụ này, mỗi chủ thể chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình mà không phải thực hiện nghĩa vụ thay cho người khác. Đặc điểm này của nghĩa vụ riêng rẽ lại một lần nữa khẳng định các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự luôn độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý. Khi chủ thể tham gia vào quan hệ nghĩa vụ qua đó làm phát sinh các quyền, lợi ích’nhất định thì họ cũng phải chịu trách nhiệm bằng tài sản một cách tương xứng với những quyền và lợi ích đó. Khi pháp luật không quy định, các chủ thể không thỏa thuận khác, việc chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình tạo ra địa vị pháp lý cho chính họ.

6. Phân biệt nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ riêng rẽ

Tiêu chí

Nghĩa vụ riêng rẽ

Nghĩa vụ liên đới

 Khái niệm

Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ là nghĩa vụ có nhiều người tham gia, trong đó các chủ thể cùng thực hiện quyền hoặc cùng thực hiện nghĩa vụ, nhưng phần quyền hoặc nghĩa vụ của mỗi chủ thể là độc lập và riêng biệt với nhau. (Điều 288 BLDS 2015)

Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ có nhiều người tham gia, trong đó mỗi người có quyền đều được yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ ; hoặc mỗi người có nghĩa vụ đều có thể bị người có quyền yêu cầu phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. (Điều 288 BLDS 2015)

 Đang cập nhật

 Đang cập nhật

 Đang cập nhật

 Đang cập nhật

 Đang cập nhật

 Đang cập nhật

Ví dụ

A, B, C cùng nhận trang trí một ngôi nhà trong đó A nhận lăn sơn, B nhận trang trí đèn, C nhận trang trí tường nhà. Như vậy A, B, C cùng nhận nhiệm vụ trang trí nhưng nhiệm vụ của mỗi người riêng rẽ với nhau.

A, B, C cùng nhận nhiệm vụ lăn sơn cho một biệt thự, như vậy trách nhiệm của A, B, C là liên đới, một người không hoàn thanh làm ảnh hưởng đến thi công thì các bên phải liên đới chịu trách nhiệm.