1. Khái niệm nghĩa vụ nợ cầm cố có thể chấp
Nghĩa vụ nợ cầm cố có thế chấp (collateralized mortgage obligation), viết tắt là CMO là một dạng chứng khoán được đảm bảo bằng thế chấp. Nó bao gồm một các khoản vay thế chấp được gom lại và bán như một khoản đầu tư.
Được sắp xếp dựa theo ngày đáo hạn và mức độ rủi ro, nghĩa vụ nợ cầm cố thế chấp nhận được dòng tiền từ sự thanh toán của các khoản vay cầm cố được thế chấp trong chứng khoán này.
Nghĩa vụ nợ cầm cố có thế chấp (collateralized mortgage obligation - CMO) sẽ phân phối các khoản chi trả vốn và lãi suất cho nhà đầu tư theo một qui định và thỏa thuận được cam kết trước.
2. Đặc điểm của CMO
CMO bao gồm nhiều đợt (tranche) - là các nhóm khoản nợ cầm cố khác nhau được sắp xếp dựa trên mức độ rủi ro của chúng. Vì là một công cụ tài chính phức tạp, nên các đợt thường sẽ có giá trị vốn, lãi suất, ngày đáo hạn và rủi ro vỡ nợ khác nhau.
CMO rất nhạy cảm với các biến động trong lãi suất hay điều kiện kinh tế, ví dụ như tỉ lệ tài sản bị tịch thu, tỉ lệ đảo nợ,…
Mỗi đợt sẽ có ngày đáo hạn và giá trị khác nhau. Một trái phiếu chi trả lãi coupon hàng tháng sẽ được phát hành dựa theo nó. Lãi coupon này bao gồm một phần vốn và lãi suất.
Để dễ hình dung hơn, hãy tưởng tượng một nhà đầu tư đang sở hữu nghĩa vụ nợ cầm cố thế chấp được tạo nên từ hàng ngàn các khoản vay cầm cố khác nhau. Lợi nhuận tiềm năng của anh ấy sẽ phụ thuộc vào việc người đi vay các khoản vay cầm cố đó có trả nợ hay không.
Nếu chỉ một ít trong số đó vỡ nợ, những người còn lại đều thanh toán đầy đủ thì anh ấy sẽ nhận lại được vốn cũng như có được lợi nhuận. Nhưng ngược lại nếu có hàng ngàn người không đủ khả năng thanh toán và bị tịch thu tài sản thì nghĩa vụ cầm thế chấp sẽ bị mất tiền và không thể chi trả cho nhà đầu tư này.
Trong CMO, người vay thanh toán tiền gốc và lãi được tách thành nhiều dòng thanh toán khác nhau, tạo ra một số trái phiếu hoàn trả vốn đầu tư với các lãi suất khác nhau. Vốn gộp chung thường đảm bảo nhiều cấp CMO khác nhau. Một CMO trả cho chủ trái phiếu theo thời biểu khác với vốn thế chấp gộp chung, và bao gồm các trái phiếu thanh toán nhanh, thanh toán trung bình và thanh toán chậm, nhằm thích ứng nhu cầu của các nhà đầu tư khác nhau.
Thỏa thuận thường bao gồm: trái phiếu thanh toán nhanh có kỳ đáo hạn ngắn hơn tổng vốn gộp chung; tiền lãi thanh toán trái phiếu chỉ dành cho một thời kỳ có thể được cố định dựa trên các CMO trước thể hiện ra sao, trước khi thanh toán tiền gốc bắt đầu; và một trái phiếu trả tiền lãi biến thiên căn cứ một chỉ số, thường là lãi suất chào giá liên ngân hàng Luân Đôn (LIBOR), mặc dù chính các thế chấp có thể là các khoản vay lãi suất cố định. Các trái phiếu thanh toán nhanh hấp dẫn hầu hết người tìm khoản tiết kiệm và tiền vay đầu tư có khả năng thanh toán ngắn hạn, trong khi các CMO dài hạn hơn thu hút nhu cầu đầu tư quỹ hưu trí và các nhà đầu tư định chế. Các CMO đầu tiên được phát hành bởi Công ty Cầm cố Khoản vay Mua nhà Liên bang (Freddie Mac) năm 1983. Các CMO quản lý rủi ro thanh toán trước liên quan các chứng khoán có liên kết với cầm cố, bằng cách phân tách hỗn hợp khoản vay cầm cố thành nhiều loại khác nhau. Các CMO trả tiền gốc và lãi mỗi nửa năm. Một CMO có thể là việc bán tài sản không truy hồi bởi công ty phát hành, hay là khoản nợ phải trả của công ty phát hành, phụ thuộc giao dịch được sắp xếp ra sao. Các luật kế toán trong việc phát hành các chứng khoán này rất phức tạp.
3. Nghĩa vụ cho vay thế chấp
3.1. Khái niệm
Nghĩa vụ cho vay thế chấp, tiếng Anh gọi là collateralized loan obligation (CLO) là một chứng khoán được đảm bảo bằng một rổ các khoản nợ. Các khoản nợ này thường là các khoản vay doanh nghiệp có chất lượng tín dụng thấp hay khoản vay đòn bẩy mà một công ty tư nhân sử dụng để mua lại một công ty khác.
CLO cũng tương tự như nghĩa vụ nợ cầm cố thế chấp (CMO), chỉ khác nhau ở loại hình khoản nợ được dùng để đảm bảo. Một bên là nợ vay doanh nghiệp còn một bên là nợ vay cầm cố tài sản.
Với CLO, nhà đầu tư sẽ được nhận các khoản thanh toán theo kì của các khoản nợ được dùng để đảm bảo và phải chấp nhận cả rủi ro vỡ nợ từ chúng. Nhưng để bù đắp cho rủi ro vỡ nợ này thì nhà đầu tư sẽ có được một danh mục đa dạng hơn và một khoản lợi nhuận tiềm năng cao hơn trung bình.
3.2. Đặc điểm của nghĩa vụ cho vay thế chấp
Những khoản vay có xếp hạng tín dụng thấp sẽ được bán cho một nhà quản lí Nghĩa vụ cho vay thế chấp. Nhà quản lí này sẽ gom nhiều khoản vay lại (thường là từ 100 đến 225) thành một rổ thống nhất để tiến hành mua bán nợ.
Để huy động tiền nhằm có thể tiếp tục mua các khoản nợ khác, nhà quản lí sẽ bán Nghĩa vụ cho vay thế chấp cho nhà đầu tư theo một cấu trúc được gọi là phân ngạch (tranche). Mỗi phân ngạch sẽ đại diện cho một phần của Nghĩa vụ cho vay thế chấp và nó sẽ quyết định xem ai là người đầu tiên được chi trả khi mà các khoản nợ thế chấp được thanh toán.
Và vì vậy nó cũng quyết định mức độ rủi ro của khoản đầu tư do nhà đầu tư nào được chi trả cuối cùng sẽ chịu nhiều rủi ro vỡ nợ nhất. Nhưng nhà đầu tư được chi trả đầu tiên do chấp nhận mức độ rủi ro thấp nên cũng sẽ nhận được lợi suất thấp hơn. Còn những nhà đầu tư được trả sau hay trả cuối thì sẽ nhận được lợi suất cao hơn để bù đắp cho rủi ro mà họ phải chịu.
Nghĩa vụ cho vay thế chấp là một công cụ được quản lí chủ động. Người quản lí có thể thực hiện mua bán các khoản nợ trong rổ thế chấp bất kì lúc nào để kiếm lợi nhuận hay tối thiểu hóa rủi ro. Và thường thì các khoản nợ vay nằm trong Nghĩa vụ cho vay thế chấp được đảm bảo bằng những tài sản có giá trị cao nên việc bán tống cũng ít xảy ra giúp nó có khả năng chống chịu sự dao động của thị trường tốt hơn.
4. Nghĩa vụ trái phiếu thế chấp
4.1. Khái niệm
Nghĩa vụ trái phiếu thế chấp, tiếng Anh gọi là collateralized bond obligation (CBO).
Nghĩa vụ trái phiếu thế chấp (CBO) là một dạng trái phiếu đầu tư được đảm bảo bằng các một rổ gồm nhiều trái phiếu có chất lượng tín dụng khác nhau. Rổ trái phiếu này là một tập hợp của những trái phiếu rủi ro cao và trái phiếu rủi ro thấp. Chúng được phân ra thành các bậc. Mỗi bậc sẽ đại diện cho một mức độ rủi ro và từ đó xác định mức lãi suất sẽ trả cho nhà đầu tư.
Một nghĩa vụ nợ trái phiếu bậc cao sẽ bao gồm những trái phiếu chất lượng cao, rủi ro thấp và cũng trả lãi suất thấp. Bậc trung thì sẽ gồm những trái phiếu có rủi ro cao hơn và lãi suất trả cũng cao hơn. Bậc thấp là những trái phiếu có chất lượng thấp nhất và sẽ được nhận tất cả khoản thanh toán còn lại sau khi chi trả cho hai bậc kia. Và bởi vì nghĩa vụ nợ trái phiếu bậc thấp có rủi ro cao nên nhà đầu tư cũng sẽ nhận được lợi suất cao hơn.
Việc chứng khoán hóa để tạo ra CBO là một cách để chuyển những trái phiếu đầu cơ thành chứng khoán đầu tư. Do không hẳn trái phiếu đầu cơ nào cũng bị vỡ nợ nên rủi ro của nghĩa vụ trái phiếu thế chấp sẽ thấp hơn từng cá thể trái phiếu cấu thành nó. Và vì thế mà nghĩa vụ trái phiếu thế chấp được xếp loại đầu tư.
Sự hấp dẫn của CBO còn nằm ở việc giá trị tài sản đảm bảo cao hơn giá trị của nó. Nhờ đó mà việc bán những nghĩa vụ trái phiếu thế chấp được xếp hạng cao cũng dễ dàng hơn do bên phát hành phải đảm bảo nhiều tài sản cho nó hơn để được xếp hạng cao. Vì vậy mà cho dù một vài trái phiếu cấu thành có bị vỡ nợ hay chậm tri trả thì việc thanh toán lãi suất của nghĩa vụ trái phiếu thế chấp cũng được đảm bảo nhờ vào thặng dư trong giá trị tài sản đảm bảo.
CBO giúp nhà đầu tư tiếp cận được với khoản lợi nhuận cao từ những trái phiếu đầu cơ với mức rủi ro thấp hơn. Ngoài ra, nó còn là cách để những bên đang nắm giữ quá nhiều trái phiếu đầu cơ có thể giảm bớt danh mục của họ bằng cách gom chúng lại thành nghĩa vụ trái phiếu thế chấp.
5. Trái phiếu nghĩa vụ chung
5.1. Định nghĩa
Trái phiếu nghĩa vụ chung trong tiếng Anh là General obligation bond (GO). Trái phiếu nghĩa vụ chung là trái phiếu được bảo lãnh bởi tín chấp và quyền đánh thuế của nhà phát hành thay vì doanh thu từ một dự án nhất định.
Nhà đầu tư mua trái phiếu nghĩa vụ chung với niềm tin rằng một đô thị sẽ có thể trả nghĩa vụ nợ thông qua thuế hoặc doanh thu từ các dự án. Không có tài sản được sử dụng làm tài sản thế chấp trong trường hợp này.
5.2. Đặc trưng của trái phiếu nghĩa vụ chung
- Trái phiếu nghĩa vụ chung (GO) được bảo đảm bằng cam kết của Chính phủ phát hành, đó là sử dụng tất cả các nguồn lực có sẵn, ngay cả các khoản thu thuế để trả nợ cho người nắm giữ trái phiếu.
- Ở cấp chính quyền địa phương, các cam kết có thể bao gồm cam kết đánh thuế tài sản để đáp ứng nghĩa vụ của chính quyền địa phương đối với các trái chủ.
- Ví dụ, do chủ sở hữu tài sản tránh mất cổ phần trên tài sản tương ứng vì chưa thanh toán hóa đơn thuế tài sản, cơ quan xếp hạng tín dụng đánh giá nghĩa vụ chung cam kết với chất lượng tín dụng tốt và gán cho họ xếp hạng đầu tư cao.
Nếu chủ sở hữu tài sản không thể trả thuế tài sản của họ trước hoặc vào ngày đáo hạn được chỉ định, Chính phủ được phép tăng thuế suất thuế tài sản để bù đắp cho bất kì hành vi phạm pháp nào. Vào ngày đáo hạn được chỉ định, cam kết nghĩa vụ chung yêu cầu chính quyền địa phương trang trải khoản nợ bằng các nguồn lực sẵn có của họ.
- Trái phiếu nghĩa vụ chung là công cụ để chính quyền địa phương gây quĩ cho các dự án tạo ra nguồn thu nhập cho các công trình như đường, công viên, thiết bị và cầu. Trái phiếu nghĩa vụ chung cũng thường được sử dụng để tài trợ cho các dự án của Chính phủ nhằm phục vụ cộng đồng.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).