Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất nàng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Người bị mất năng lực hành vi dân sự sẽ không được thực hiện quyền ứng cử và bầu cử.
Trên thực tế, bệnh nhân tâm thần thường không cư trú cố định ở một nơi. Mạng lưới y tế chuyên khoa hiện tại cũng chưa phát triền rộng khắp nên chưa khám và xác định được họ. Do đó, ở địa phương, nếu có trưòng hợp có biểu hiện bệnh lý tâm thần rõ rệt, thường xuyên không làm chủ được nhận thức và hành vi thì tuy chưa có điều kiện tổ chức khám và xác nhận của cơ quan y tê có thẩm quyền, chưa được Tòa án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự nhưng gia đình, người giám hộ có cam kết và chính quyền địa phương xác nhận thì họ cũng bị coi là người mất năng lực hành vi dân sự và không được ghi tên vào danh sách cử tri.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp lý về vấn đề trên:
1. Thế nào là người mất năng lực hành vi dân sự?
Căn cứ vào Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Nếu năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là quyền khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng bằng chính hành động của chủ thể tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ, ngoài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực chịu trách nhiệm khi có sự vi phạm nghĩa vụ.
Theo đó, mất năng lực hành vi dân sự là việc một cá nhân không còn khả năng tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ. Một người được xác định là mất năng lực hành vi dân sự rõ nhất là khi cá nhân đó chết hoặc Tòa án tuyên bố là đã chết (năng lực hành vi chấm dứt cùng vớ sự chấm dứt của năng lực pháp luật). Tuy nhiên, người thành niên có thể bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự khi có những điều kiện với những trình tự, thủ tục nhất định.
Người bị coi là mất năng lực hành vi dân sự được pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Như vậy, một người bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà những người này không có khả năng để nhận thức và làm chủ được hành vi một cách đúng đắn theo ý chí của mình;
- Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan;
- Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của những chủ thể trên, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Tuy nhiên, khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, để hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự;
- Có yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan;
- Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Những người bị mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Việc tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Người đại diện theo pháp luật của cá nhân được quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm:
- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.
Theo đó, giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:
- Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực.
- Nếu không có người giám hộ được lựa chọn thì xác định như sau:
+ Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.
+ Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.
+ Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
+ Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện trong hai trường hợp trên.
+ Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Ngoài ra, theo quy định của pháp luật dân sự những người bị mất năng lực hành vi dân sự vẫn có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự. Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người người bị mất năng lực hành vi dân sự khi họ không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì khi tham gia giao dịch dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
Trình tự, thủ tục để yêu cầu Tòa án tuyên bố người mất năng lực hành vi dân sự
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ
Hồ sơ để yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự gồm các loại giấy tờ sau:
- Đơn yêu cầu tuyên bố người mất năng lực hành vi dân sự;
- Giấy tờ tùy thân của người có yêu cầu (nếu có), gồm: Chứng minh nhân dân/căn cước công dân, hộ khẩu thường trú;
- Giấy tờ tùy thân của người giám hộ đỡ đầu;
- Các tài liệu, chứng cứ liên quan chứng minh cho việc yêu cầu tuyên bố người mất năng lực hành vi dân sự là hoàn toàn dựa trên cơ sở hợp pháp và có căn cứ.
Thẩm quyền tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự là Tòa án nhân dân.
Bước 2: Nộp và thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
Người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan nộp hồ sơ yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp xét thấy đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo hợp lệ, đã đủ điều kiện thụ lý thì Tòa án phải:
- Thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí.
- Tòa án thụ lý đơn yêu cầu khi người yêu cầu nộp cho Tòa án biên lai thu tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự.
- Trường hợp người yêu cầu được miễn hoặc không phải nộp lệ phí thì Thẩm phán thụ lý việc dân sự kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu.
Bước 3: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án tiến hành công việc sau đây:
- Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ chưa đủ căn cứ để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án.
- Trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết thì Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản. Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu mà chưa có kết quả giám định, định giá tài sản thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá 01 tháng.
- Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu.
- Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
- Tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Tòa án để mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
- Tòa án phải mở phiên họp để giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
Bước 4: Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự trong thời hạn giải quyết là 45 ngày tính từ ngày nhận được đơn yêu cầu.
2. Người có dấu hiệu bị bệnh tâm thần thì có được ghi tên vào danh sách cử tri hay không?
Theo nội dung phân tích trên thì trong trường hợp một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Tuy nhiên, trên thực tế thì những người bị bệnh tâm thần thường không cư trú cố định ở một nơi mà hệ thống y tế chuyên khoa của Việt Nam hiện tại cũng chưa phát triển rộng khắp nên chưa khám và xác định được họ. Do đó, khi người có dấu hiệu bị tâm thần ở địa phương nhưng họ lại không có đủ điều kiện tổ chức khám và xác nhận của cơ quan y tế thì vẫn có thể được xác định là người bị mất năng lực hành vi dân sự khi thỏa mãn các điều kiện sau:
- Đối tượng xem xét phải có biểu hiện bệnh lý tâm thần rõ rệt, thường xuyên không làm chủ được nhận thức và hành vi
- Chưa có điều kiện tổ chức khám và xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền, chưa được Tòa án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự
- Được gia đình, người giám hộ có cam kết và chính quyền địa phương xác nhận thì họ cũng bị coi là người mất năng lực hành vi dân sự.
Trước khi giải đáp vấn đề này, ta cần phải hiểu cử tri là ai? Cử tri được hiểu là người có quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử các cơ quan đại biểu của nhân dân (Quốc hội và Hội đồng nhân dân) và có quyền bỏ phiếu bãi nhiệm các đại biểu do mình bầu ra khi các đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, cử tri phải là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, trừ những người mất trí, người bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù, người đang bị giam giữ, cải tạo và người bị Toà án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử. Như vậy, cử tri là người là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có quyền bầu cử và tính đến ngày bầu cử, đủ mười tám tuổi trở lên và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về bầu cử đều có quyền bầu cử.
Như vậy, người có dấu hiệu bị tâm thần rõ rệt dù không có khả năng tổ chức khám và xác nhận của cơ quan y tế thì vẫn có thể được xác định là người bị mất năng lực hành vi dân sự và sẽ không được thực hiện quyền ứng cử và bầu cử theo quy định pháp luật.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách để quý khách có nguồn tài liệu tham khảo. Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ tới bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua Email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.