1. Vai trò của người đại diện vốn Nhà nước theo quy định pháp luật

Người đại diện nguồn vố Nhà nước vừa là đại diện thực hiện các quyền, nghĩa vụ cổ đông/thành viên/chủ sở hữu là Nhà nước, vừa là cổ đông của DN, lại vừa là người quản lý DN. Người đại diện vốn nhà nước thường được cử vào những chức vụ lãnh đạo công ty như chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, kế toán trưởng... Với tư cách đại diện vốn nhà nước, họ chịu sự chỉ đạo của cổ đông nhà nước, là cơ quan ủy quyền đại diện cho họ. Với tư cách là người lãnh đạo DN, họ phải tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp.

Mục tiêu chung của Người đại diện phần vốn nhà nước là bảo toàn và phát triển vốn một cách hiệu quả nhất” tại doanh nghiệp.

Người đại diện vốn nhà nước tại DN là người thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu vốn do chủ sở hữu Nhà nước cử tại doanh nghiệp; phải thực hiện được việc theo dõi, giám sát toàn diện tình hình hoạt động kinh doanh, tài chính, kết quả của doanh nghiệp khác theo quy định của luật pháp và điều lệ doanh nghiệp; thực hiện nhiệm vụ, chức trách, quyền và trách nhiệm của mình trong việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, nhất là Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014.

Trong mọi tình huống chưa thống nhất về lợi ích giữa các nhóm cổ đông thì yêu cầu đặt ra đối với người đại diện trước hết phải bảo vệ lợi ích của Nhà nước, trên cơ sở hài hòa các lợi ích, kể cả khi vốn Nhà nước chi phối tại doanh nghiệp đó hoặc là cổ đông thiểu số.

2. Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có phải kê khai phải kê khai tài sản ở nước ngoài không?

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định 130/2020/NĐ-CP quy định người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập hằng năm.

Người có nghĩa vụ kê khai theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 36 của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 bao gồm:

- Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 quy định tài sản, thu nhập phải kê khai như sau:

Tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm:

+ Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng; 

+ Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và động sản khác mà mỗi tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên;

+ Tài sản, tài khoản ở nước ngoài;

+ Tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai.

Căn cứ trên quy định tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm:

- Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng;

- Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và động sản khác mà mỗi tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên;

- Tài sản, tài khoản ở nước ngoài;

- Tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai.

Như vậy, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập hằng năm thì phải kê khai cả tài sản, tài khoản ở nước ngoài.

3. Một số vấn đề đặt ra đối với người đại diện vốn nhà nước tại các công ty cổ phần Việt Nam

Tuy giữ vai trò quan trọng, song trên thực tế, cơ chế cho người đại diện phần vốn Nhà nước vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như sau:

- Nguồn cung những người đại diện vốn Nhà nước hiện tại trên thị trường rất hạn chế do ở Việt Nam phần lớn coi việc ngồi hội đồng quản trị như một công việc tay trái. Tuy vậy, chế độ đãi ngộ cho những người đại diện kém hấp dẫn, chưa tương xứng với công sức mà họ bỏ ra. Hiện nay, theo quy định cho phép người đại diện vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp được hưởng thù lao. Hình thức phổ biến là doanh nghiệp chịu trách nhiệm trả lương thưởng, thực hiện các thủ tục hưu trí… cho người đại diện vốn nhà nước đảm nhận chức vụ lãnh đạo tại doanh nghiệp.

- Người đại diện của nhà nước trong công ty cổ phần: người đại diện chỉ có thể tác động đến hoạt động của công ty cổ phần theo quy định của luật pháp và điều lệ công ty. Sự tác động của người đại diện có tính chất quyết định hay không tùy thuộc vào số vốn của Nhà nước đầu tư vào công ty. Nhưng trong thực tế, vẫn xảy ra tình trạng người đại diện có sự can thiệp quá sâu vào mọi hoạt động của công ty làm hạn chế tính chủ động sáng tạo trong điều hành hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Việc trao quyền cho người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp quá lớn và chế độ báo cáo, xin ý kiến trước khi biểu quyết những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp chưa được quy định cụ thể; cùng với việc kiểm tra giám sát hạn chế, không thường xuyên nên tính chất cảnh báo, phòng ngừa rủi ro trong quá trình hoạt động của nhiều doanh nghiệp không phát huy được hiệu quả như mong đợi

- Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 đặt ra nhiều yêu cầu chặt chẽ, đòi hỏi sự can thiệp sâu của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn vào doanh nghiệp. Chẳng hạn, tất cả các vấn đề được thảo luận và quyết định tại Đại hội đồng cổ đông của doanh nghiệp, người đại diện vốn đều phải báo cáo và xin ý kiến chủ sở hữu và việc này thường không thể làm nhanh. Việc chờ đợi ý kiến của cổ đông nhà nước có thể làm chậm việc ra quyết định và mất đi cơ hội đầu tư của doanh nghiệp.

- Quy chế hoạt động của người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp còn tồn tại bất cập, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng... Một số ngân hàng thương mại có cổ phần do Nhà nước nắm giữ, người đại diện đồng thời nắm giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy Ngân hàng Nhà nước. Tại những thời điểm mà các thông tin, chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về chính sách tiền tệ, tỷ giá có ý nghĩa quyết định đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thì sự có mặt của một ủy viên trong hội đồng quản trị đồng thời là lãnh đạo thuộc Ngân hàng Nhà nước sẽ không tránh khỏi sự nghi ngờ về cạnh tranh không lành mạnh giữa ngân hàng có vốn Nhà nước và các ngân hàng cổ phần khác.

- Một bất cập trong chính sách là những người đại diện không sở hữu một tỷ lệ nào trong doanh nghiệp, do đó những người này sẽ có khả năng “thất nghiệp” cao sau thoái vốn. Khi đó, nếu doanh nghiệp có như cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động hưởng lương như người lao động bình thường. Tuy nhiên nếu các ông chủ mới không sử dụng nữa thì sẽ bị chấm dứt hợp đồng. Đó là lý do dẫn tới nhiều người đại diện không ủng hộ thoái vốn, dẫn tới nhiều vấn để nảy sinh ảnh hưởng đến tốc độ thoái vốn của doanh nghiệp. 

Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là gì? Người đại diện phần vốn Nhà nước có trách nhiệm gì? của Luật Minh Khuê.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có phải kê khai phải kê khai tài sản ở nước ngoài không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!