1. Nguyên tắc kiểm soát thu nhập

Căn cứ Điều 4 Nghị định 130/2020/NĐ-CP quy định về nguyên tắc kiểm soát tài sản, thu nhập như sau:

- Hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập phải bảo đảm minh bạch, khách quan, công bằng; được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; không xâm phạm quyền tài sản của người có nghĩa vụ kê khai.

- Mọi vi phạm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc kiểm soát tài sản, thu nhập phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm việc sử dụng không đúng mục đích thông tin, dữ liệu trong kiểm soát tài sản, thu nhập.

- Việc thực hiện các biện pháp kiểm soát tài sản, thu nhập và xử lý hành vi kê khai, giải trình không trung thực phải căn cứ vào bản kê khai, việc giải trình và Kết luận xác minh được thực hiện theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định này.

Nguyên tắc kê khai

Theo Điều 36 của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, việc kê khai tài sản, thu nhập được quy định như sau:

- Kê khai lần đầu áp dụng cho những trường hợp sau:

+ Các cá nhân đang giữ vị trí công tác theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều 34 của Luật này vào thời điểm Luật này có hiệu lực. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm 2019;

+ Các cá nhân lần đầu giữ vị trí công tác theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều 34 của Luật này. Việc kê khai phải hoàn thành không muộn hơn 10 ngày kể từ ngày tiếp nhận, tuyển dụng, hoặc bổ nhiệm vào vị trí công tác.

+ Kê khai bổ sung được thực hiện khi có sự biến động về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai có giá trị từ 300.000.000 đồng trở lên trong năm. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 của năm có biến động, trừ trường hợp đã kê khai hàng năm theo quy định tại khoản 3 của Điều này.

- Kê khai hàng năm áp dụng cho những trường hợp sau:

+ Các cá nhân giữ chức vụ từ Giám đốc sở trở lên. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12;

+ Các cá nhân không thuộc quy định tại điểm a làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác theo quy định của Chính phủ. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12.

- Kê khai phục vụ công tác cán bộ được thực hiện cho những trường hợp sau:

+ Các cá nhân có nghĩa vụ kê khai theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều 34 của Luật này khi dự kiến được bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, hoặc cử giữ chức vụ khác. Việc kê khai phải hoàn thành không muộn hơn 10 ngày trước ngày dự kiến;

+ Các cá nhân có nghĩa vụ kê khai theo quy định tại khoản 4 của Điều 34 của Luật này. Thời điểm kê khai được thực hiện theo quy định của pháp luật về bầu cử.

Như vậy, đối với cá nhân có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập theo quy định, việc kê khai bổ sung được thực hiện khi có sự biến động từ 300.000.000 đồng trở lên trong năm, phải hoàn thành trước ngày 31/12 của năm đó, trừ khi đã kê khai hàng năm theo quy định.

2. Người đại diện phần vốn góp có phải kê khai tài sản hàng năm không?

Căn cứ Điều 10 Nghị định 130/2020/NĐ-CP quy định về người có nghĩa vụ kê khai hằng năm như sau:

- Người có nghĩa vụ kê khai theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 36 của Luật Phòng, chống tham nhũng bao gồm: Các ngạch công chức và chức danh sau đây:

+ Chấp hành viên;

+ Điều tra viên;

+ Kế toán viên;

+ Kiểm lâm viên;

+ Kiểm sát viên;

+ Kiểm soát viên ngân hàng;

+ Kiểm soát viên thị trường;

+ Kiểm toán viên;

+ Kiểm tra viên của Đảng;

+ Kiểm tra viên hải quan;

+ Kiểm tra viên thuế;

+ Thanh tra viên;

+ Thẩm phán.

- Những người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác trong một số lĩnh vực được xác định trong danh mục tại Phụ lục III được ban hành kèm theo Nghị định này.

- Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Như vậy, căn cứ khoản 3 Điều 10 Nghị định 130/2020/NĐ-CP thì đối tượng người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng phải thực hiện nghĩa vụ kê khai tài sản hàng năm.

3. Công chức mới có phải kê khai?

Theo Luật Phòng, chống Tham nhũng năm 2018, việc kê khai tài sản và thu nhập được thực hiện theo ba phương thức và thời điểm nhất định, bao gồm kê khai lần đầu, kê khai bổ sung khi có biến động về tài sản và thu nhập trong năm (có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên), và kê khai hằng năm.

Việc kê khai lần đầu áp dụng cho các trường hợp đang giữ các vị trí công tác và lần đầu giữ vị trí công tác cho các trường hợp sau: cán bộ, công chức; sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; người giữ chức vụ từ Phó Trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Người lần đầu giữ vị trí công tác (người mới được tuyển dụng vào công chức) phải hoàn thành kê khai không muộn hơn 10 ngày kể từ ngày được tiếp nhận, tuyển dụng, bố trí vào vị trí công tác. Đồng thời, nếu trong năm có biến động tài sản, thu nhập từ 300 triệu đồng trở lên, họ cũng phải kê khai bổ sung.

Điều này có nghĩa là, các cán bộ, công chức mới được tuyển dụng cũng phải kê khai tài sản, thu nhập trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được tuyển dụng.

Ngoài các loại tài sản và thu nhập như nhà, đất; kim loại quý, đá quý, tiền mặt, giấy tờ có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên; tài sản, tài khoản ở nước ngoài được quy định trước đó, Luật năm 2018 còn yêu cầu các đối tượng này kê khai công trình xây dựng và tài sản khác liên quan đến đất đai, nhà ở, công trình xây dựng. Đồng thời, các đối tượng cũng phải kê khai tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.

Luật cũng quy định rõ ràng rằng, bản kê khai của những người có nghĩa vụ kê khai phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mà họ thường xuyên làm việc. Bản kê khai của những người dự kiến được bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý phải được công khai tại cuộc họp đánh giá năng lực và đạo đức. Bản kê khai của những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cần được công khai theo quy định của pháp luật bầu cử...

Nếu không kê khai có bị xử phạt không?

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị và sẽ có hiệu lực từ ngày 20/12/2020. 

Theo Nghị định, người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập mà kê khai không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử lý theo quy định tại Điều 51 của Luật Phòng, chống tham nhũng.

Người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập mà tẩu tán, che giấu tài sản, thu nhập, cản trở hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập, không nộp bản kê khai sau 2 lần được đôn đốc bằng văn bản thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý bằng một trong các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, bãi nhiệm, buộc thôi việc, giáng cấp bậc quân hàm, giáng cấp bậc hàm.

Nghị định cũng quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thiếu trách nhiệm trong tổ chức việc kê khai, công khai bản kê khai, nộp bản kê khai thì tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, giáng chức.

Nếu quý khách hàng gặp bất kỳ vấn đề hoặc thắc mắc nào liên quan đến nội dung bài viết hoặc các quy định pháp luật, chúng tôi luôn sẵn lòng hỗ trợ và giải quyết vấn đề của quý khách một cách nhanh chóng và tốt nhất có thể. Quý khách hàng có thể liên hệ với chúng tôi thông qua tổng đài 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi sẽ lắng nghe và phản hồi sớm nhất để đảm bảo rằng mọi khó khăn và mâu thuẫn được giải quyết một cách hiệu quả và hài lòng nhất.