1. Nguyên tắc thoái vốn hiện nay
Khi tiến hành thủ tục thoái vốn của nhà nước tại một công ty cổ phần, quan trọng nhất là phải hiểu rõ nguyên tắc thoái vốn. Cụ thể, quy trình chuyển nhượng vốn nhà nước phải tuân theo danh mục doanh nghiệp có vốn nhà nước, được phê duyệt bởi cơ quan có thẩm quyền, theo tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Danh mục doanh nghiệp nhà nước cần được sắp xếp theo giai đoạn, theo hướng dẫn của Thủ tướng Chính phủ.
Trong quá trình chuyển nhượng, cần tuân thủ nguyên tắc thị trường, đảm bảo sự công khai, minh bạch và thu hồi vốn nhà nước với mức đầu tư cao nhất, đồng thời giảm thiểu tổn thất đầu tư. Đặc biệt, việc xác định giá khởi điểm trong quá trình đấu giá chuyển nhượng vốn nhà nước là quan trọng. Cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc tổ chức, cá nhân thuộc đơn vị trực thuộc cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc người đại diện phần vốn nhà nước phải được ủy quyền, giao nhiệm vụ bằng văn bản để lựa chọn tổ chức thẩm định giá và đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về giá.
Ngoài ra, để thực hiện quá trình chuyển nhượng vốn nhà nước, cần thuê tổ chức đấu giá và tổ chức tư vấn có chức năng liên quan để đảm bảo hiệu quả và tuân thủ đầy đủ quy trình. Điều này đòi hỏi sự ủy quyền và giao nhiệm vụ chặt chẽ từ cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc người đại diện phần vốn nhà nước.
Tóm lại, khi thoái vốn, các doanh nghiệp cần tự tin áp dụng các nguyên tắc trên và xây dựng các phương án cụ thể để đảm bảo quá trình thoái vốn diễn ra mạch lạc và hiệu quả.
2. Thủ tục thoái vốn nhà nước tại công ty cổ phần thực hiện thế nào?
- Đối với các công ty cổ phần đã niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc đăng ký giao dịch trên sàn giao dịch Upcom, quá trình chuyển nhượng sẽ được thực hiện theo các quy định của pháp luật về chứng khoán. Trong trường hợp chuyển nhượng theo phương thức thỏa thuận, giá thỏa thuận phải nằm trong biên độ giá giao dịch của mã chứng khoán vào ngày chuyển nhượng.
- Đối với các công ty cổ phần chưa niêm yết hoặc chưa đăng ký giao dịch trên sàn Upcom, quy trình chuyển nhượng vốn sẽ tuân theo các phương thức sau đây:
+ Đấu giá công khai: Trong trường hợp đấu giá công khai không thành công, quy trình sẽ chuyển sang hình thức chào bán cạnh tranh thông qua đấu giá bán cổ phần theo lô. Đối với chuyển nhượng vốn có giá trị từ 10 tỷ đồng trở lên, quá trình này phải được thực hiện tại Sở Giao dịch chứng khoán. Đối với số vốn chuyển nhượng dưới 10 tỷ đồng, có thể sử dụng tổ chức tài chính trung gian để tổ chức đấu giá, tự tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp, hoặc thực hiện đấu giá tại Sở Giao dịch chứng khoán.
+ Bán thỏa thuận trực tiếp: Trong trường hợp đấu giá cổ phần theo lô không thành công, có thể tiến hành bán thỏa thuận trực tiếp giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu và nhà đầu tư.
+ Chuyển nhượng vốn theo phương thức thỏa thuận trực tiếp: Trong trường hợp này, người có thẩm quyền quyết định chuyển nhượng vốn không được phép quyết định chuyển nhượng cho doanh nghiệp mà họ đang quản lý. Đồng thời, không được phép chuyển nhượng cho những cá nhân có quan hệ gia đình như vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh rể, chị dâu, em rể, em dâu, đồng thời là người quản lý trong doanh nghiệp đó.
3. Thẩm quyền quyết định về chuyển nhượng vốn nhà nước theo quy định
Như đã đề cập trong phần nguyên tắc khi thực hiện quy trình chuyển nhượng vốn nhà nước theo quy định pháp luật trong công ty cổ phần, việc thoái vốn đòi hỏi một phương án cụ thể. Trong giai đoạn này, quyết định về phương án cần được một chủ thể duyệt. Theo quy định của Điều 38 Khoản 2 Nghị định 91/2015/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Khoản 15 Điều 1 Nghị định 32/2018/NĐ-CP, một số điều được quy định như sau:
- Thủ tướng Chính phủ quyết định danh mục doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện chuyển nhượng trong từng giai đoạn.
- Cơ quan đại diện chủ sở hữu xây dựng lộ trình, quyết định phương án và tổ chức thực hiện chuyển nhượng vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo danh mục doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện chuyển nhượng đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Do đó, để có thẩm quyền phê duyệt phương án thực hiện thủ tục thoái vốn nhà nước, công ty cổ phần phải chờ quyết định từ Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan đại diện chủ sở hữu. Quá trình chuyển nhượng vốn nhà nước chỉ có thể bắt đầu khi có sự chấp thuận từ các cấp quản lý này.
4. Một số vấn đề đặt ra trong thoái vốn nhà nước tại công ty cổ phần
Thứ nhất, bên cạnh những thành tựu đạt được, tổng quan về tiến độ và quy mô doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn trong giai đoạn vừa qua vẫn chậm, không đảm bảo theo kế hoạch. Tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn không đạt được như dự kiến có nhiều nguyên nhân, bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Để giải thích tình trạng trì trệ của quá trình này, Cục Tài chính doanh nghiệp chỉ ra rằng doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn thường có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, đa ngành, đa lĩnh vực, với nhiều tài sản chuyên ngành, khó xác định giá trị. Điều này dẫn đến việc xử lý tài chính, xác định giá trị doanh nghiệp, giá trị phần vốn nhà nước, và công tác chuẩn bị hồ sơ, phương án mất nhiều thời gian. Một số doanh nghiệp còn phải giải quyết nhiều vấn đề tài chính và đang thực hiện thanh tra, kiểm tra, điều tra về quản lý vốn, tài sản.
Về yếu tố chủ quan, tình trạng chậm trễ của quá trình cổ phần hóa, thoái vốn cũng xuất phát từ việc thiếu sự hiệu quả trong thực thi các văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù đã có sự điều chỉnh và bổ sung hệ thống văn bản về cổ phần hóa, thoái vốn, nhưng chúng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế, đặc biệt là đối với các vấn đề liên quan đến định giá quyền sử dụng đất, giá trị thương hiệu, tiềm năng phát triển, kiểm kê xử lý tài sản chuyên ngành.
Một nguyên nhân chủ quan khác do Bộ Tài chính chỉ ra là vai trò, nhận thức, và trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp chưa đạt đến mức cao, không quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp, không thực hiện công khai, minh bạch đúng quy định pháp luật. Một số Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa đặc biệt quan tâm đến việc sắp xếp, xử lý tài sản đất đai.
Thứ hai, cổ phần hóa, thoái vốn vẫn còn thiếu sót về "chất". Một số doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa vẫn giữ tỷ lệ vốn Nhà nước cao, không hấp dẫn nhà đầu tư, đặc biệt là trong việc thu hút nhà đầu tư chiến lược. Một số doanh nghiệp thậm chí sau khi cổ phần hóa vẫn hoạt động không hiệu quả và không có nhiều thay đổi trong quản trị do tỷ lệ vốn Nhà nước vẫn cao. Thực tế cho thấy, dù đã cổ phần hóa nhưng cổ đông Nhà nước vẫn giữ quyền lợi quyết định nên không có nhiều sự đổi mới trong hoạt động kinh doanh sau cổ phần hóa. Một số doanh nghiệp thực hiện thoái vốn nhưng không triệt để, và công tác cổ phần hóa, thoái vốn của một số bộ, ngành, địa phương còn nhiều hạn chế, đặc biệt là về vấn đề đất đai, dẫn đến thất thoát vốn và tài sản của Nhà nước.
Thứ ba, quá trình thoái vốn đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước chỉ tuân theo Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty, có thể bị lợi dụng, dẫn đến thất thoát trong quá trình thoái vốn. Đặc biệt, khi công ty mẹ là doanh nghiệp Nhà nước chuyển giao quyền sử dụng đất ở vị trí đắc địa cho công ty con, sau đó quyền sử dụng đất được mang đi góp vốn và lợi dụng việc thoái vốn để chuyển quyền sử dụng đất vào tay tư nhân. Một số doanh nghiệp thực hiện thoái vốn không thông qua sở giao dịch chứng khoán, mà chọn thuê tổ chức tài chính trung gian bán đấu giá hoặc tự tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp. Điều này dẫn đến việc pháp luật trao quyền cho doanh nghiệp thẩm định giá quá lớn mà thiếu sự kiểm tra, giám sát, dẫn đến lỗ hổng trong thẩm định giá khi thoái vốn. Vụ án xảy ra tại Sabeco là ví dụ rõ ràng, khi giá khởi điểm được phê duyệt cao hơn giá trị thực của khu đất đắc địa mà Sabeco mang đi liên doanh góp vốn.
Thứ tư, vẫn tồn tại những vấn đề về hậu cổ phần hóa. Một số doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa không duy trì việc làm cho lao động đã được đào tạo, hoặc chưa thực hiện chuyển đổi mô hình hoạt động để khai thác lợi thế đất đai. Còn trường hợp nhà đầu tư chiến lược tham gia mua cổ phần chỉ nhằm mục đích chính là bất động sản và những khu đất vàng của doanh nghiệp, không tập trung vào thương hiệu hoặc ngành kinh doanh chính. Khi đã sở hữu doanh nghiệp, họ tìm cách chuyển nhượng đất và thay đổi mục đích sử dụng đất để kiếm lời, không tập trung vào việc phát triển doanh nghiệp theo hoạt động sản xuất kinh doanh chính. Quản lý vốn tại các doanh nghiệp có sự chi phối của nhà nước khó khăn, đặc biệt là tại các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, thuộc diện giám sát tài chính hoặc có cổ đông lớn không hợp tác.
Bên cạnh đó, công tác đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán sau cổ phần hóa của các công ty cổ phần gặp nhiều khó khăn, không đáp ứng đủ yêu cầu về công khai, minh bạch trong quá trình hậu cổ phần hóa. Đồng thời, hạn chế công tác giám sát của cộng đồng đối với hoạt động của các doanh nghiệp này. Công tác quyết toán cổ phần hóa còn chưa được thực hiện đúng đắn tại một số doanh nghiệp đã cổ phần hóa, tạo khó khăn trong quá trình vận hành của công ty cổ phần và ảnh hưởng đến quá trình thoái vốn của doanh nghiệp.
Bài viết liên quan: Tư vấn thủ tục thoái vốn để thành lập công ty TNHH 2 thành viên ?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!