1. Người đang đi tù thì có được lập di chúc không?
Theo Hiến pháp năm 2013, quyền của con người và quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong các trường hợp cần thiết như quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng (theo khoản 2, điều 14).
Theo Bộ luật Hình sự 2015, trong trường hợp công dân Việt Nam bị kết án phạt tù vì tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác theo quy định của Bộ luật Hình sự, một số quyền của họ sẽ bị tước đoạt, bao gồm: Quyền ứng cử đại biểu cho các cơ quan quyền lực nhà nước; Quyền làm việc trong cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 638 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc có thể có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực trong các trường hợp sau:
- Di chúc của quân nhân đang trong thời gian phục vụ quân ngũ có được xác nhận từ thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, trừ trường hợp quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.
- Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay cần có xác nhận từ người chỉ huy phương tiện đó.
- Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác cần có xác nhận từ người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.
- Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo cần có xác nhận từ người phụ trách đơn vị.
- Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài cần có chứng nhận từ cơ quan lãnh sự hoặc đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước đó.
- Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành án phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh cần có xác nhận từ người phụ trách cơ sở đó.
Dựa vào quy định trên, người đang chấp hành án phạt tù có thể lập di chúc và cần phải có xác nhận từ người phụ trách cơ sở đó, tức là quản giáo. Di chúc khi có xác nhận từ người phụ trách cơ sở sẽ có giá trị tương tự như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.
Tuy nhiên, vấn đề về tính hợp pháp của di chúc cần được xem xét dựa trên các điều kiện tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015.
2. Di Chúc của người đang chấp hành án phạt tù hợp pháp khi đáp ứng điều kiện gì?
Di chúc là một giao dịch dân sự đặc biệt, chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc qua đời. Theo quy định pháp luật, một di chúc có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng các điều kiện sau:
Điều kiện về năng lực chủ thể:
- Người lập di chúc phải đạt đến độ tuổi nhất định và có khả năng nhận thức về việc định đoạt tài sản của mình.
- Người từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể lập di chúc nhưng cần có sự đồng ý từ cha, mẹ hoặc người giám hộ.
Điều kiện về ý chí của người lập di chúc:
- Người lập di chúc phải tự nguyện khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.
- Người lập di chúc không được bị cưỡng ép về thể chất hoặc tinh thần, và không được lừa dối.
Điều kiện về nội dung của di chúc:
- Nội dung di chúc phải thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc định đoạt tài sản, thừa kế, phân chia di sản, và giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
- Ý chí của người lập di chúc phải phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Di chúc có nội dung trái với pháp luật và đạo đức xã hội có thể bị coi là vô hiệu.
Điều kiện về hình thức:
- Di chúc phải được lập thành văn bản theo quy định tại Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015. Trường hợp không thể lập di chúc bằng văn bản, di chúc miệng cũng có hiệu lực.
- Một số trường hợp đặc biệt yêu cầu lập di chúc bằng văn bản hoặc văn bản kèm công chứng/chứng thực.
- Nếu không đáp ứng được các điều kiện về hình thức, di chúc sẽ bị coi là vô hiệu.
3. Quyền của người lập di chúc theo quy định
Quyền sở hữu tài sản là quyền thiêng liêng nhất của con người. Trong quyền sở hữu, bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt, việc tự quyết định về tài sản của mình là quyền tự do ý chí của mỗi chủ thể. Pháp luật tôn trọng và bảo vệ quyền của mỗi cá nhân đối với tài sản của họ.
Điều 609 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Cá nhân có quyền lập di chúc để quyết định về tài sản của mình, để lại tài sản cho người thừa kế theo quy định pháp luật, và được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Quy định này thể hiện quyền của cá nhân trong việc lập di chúc, thể hiện quyền định đoạt tài sản của mình.
Pháp luật ghi nhận và bảo vệ quyền của người lập di chúc tại các điều 626, 640 Bộ luật dân sự 2015, bao gồm:
- Quyền chỉ định người thừa kế: Người lập di chúc có quyền chỉ định bất kỳ ai là người thừa kế, không cần phải là người thừa kế theo quy định, bao gồm cả cơ quan, tổ chức làm người thừa kế để hưởng di sản theo di chúc của mình.
- Quyền phế truất quyền hưởng di sản: Pháp luật cho phép người lập di chúc phế truất quyền hưởng di sản của một người thừa kế nếu muốn, tôn trọng ý chí của người để lại di sản. Người thừa kế bị phế truất quyền hưởng di sản sẽ mất tư cách người thừa kế theo quy định.
- Quyền phân chia di sản cho từng người thừa kế: Người lập di chúc có quyền phân chia di sản một cách cụ thể cho từng người thừa kế, quy định phần di sản hoặc hiện vật mà từng người thừa kế sẽ hưởng.
- Quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế: Người lập di chúc có quyền chỉ định nghĩa vụ cho người thừa kế theo di chúc, như việc trả nợ, bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, người thừa kế không phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản liên quan đến nhân thân của người để lại di sản.
- Quyền di tặng: Người lập di chúc có quyền dành một phần di sản để tặng cho người khác thông qua việc thể hiện ý nguyện trong di chúc. Người nhận tài sản di tặng được coi là một bên trong hợp đồng tặng và không cần thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người đã qua đời để lại.
- Quyền sử dụng di sản cho việc thờ cúng: Người lập di chúc có quyền để lại một phần di sản để sử dụng trong việc thờ cúng. Không ai có quyền buộc người khác dành một phần di sản khi chết để con cháu lo việc cúng giỗ, nhưng nếu người để lại di chúc theo ý nguyện đó, thì ý nguyện đó phải được tôn trọng.
- Quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc: Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ di chúc nếu có thay đổi ý chí. Việc này phải được thể hiện bằng văn bản riêng biệt kèm theo di chúc đã lập.
- Quyền thay thế di chúc: Khi người lập di chúc đã thay thế di chúc, những di chúc trước đó không còn hiệu lực theo quy định của pháp luật.
- Quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản: Người lập di chúc có quyền chỉ định ai sẽ giữ di chúc, quản lý di sản và phân chia di sản. Để đảm bảo ý chí tự nguyện không bị xâm phạm, người lập di chúc có thể giao di chúc cho văn phòng công chứng, phòng công chứng hoặc bất kỳ người nào mà họ tin tưởng để giữ bản di chúc.
Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc cùng tham khảo bài viết: Công chứng di chúc cần giấy tờ gì? Công chứng di chúc ở đâu?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Người đang đi tù thì có được lập di chúc không? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.