1. Phản tố trong tố tụng dân sự

Yêu cầu phản tố bản chất là yêu cầu khởi kiện, bởi vậy, giải quyết yêu cầu phản tố cũng thực hiện như thủ tục giải quyết một yêu cầu khởi kiện. Để khắc phục tình trạng bất cập tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định tại khoản 3, Điều 200 để rút ngắn thời gian mà bị đơn thực hiện quyền đưa ra yêu cầu phản tố: trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố.

Theo đó, dựa trên bản chất của các tranh chấp dân sự là sự bất đồng, xung đột giữa quyền và lợi ích giữa các bên đương sự nên tinh thần xuyên suốt chủ đạo và cũng là nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự là quyền tự định đoạt của các đương sự. Khi cho rằng quyền và lợi ích của mình đang bị xâm phạm, chủ thể có thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ, bị đơn có quyền phản tố đối với yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền có yêu cầu độc lập đối với yêu cầu của bị đơn hoặc của nguyên đơn. Các chủ thể trên có quyền bổ sung, thay đổi cho yêu cầu của mình khi đưa ra các yêu cầu trên trong những trường hợp luật định. Thực tiễn xét xử cho thấy, một vấn đề đang gây nhiều tranh cãi là việc xác định chính xác việc bổ sung, thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập trong trường hợp nào được chấp nhận và không chấp nhận trong trường hợp nào.

2. Yêu cầu phản tố trong tố tụng dân sự

Giữa các bên trong giao dịch dân sự cùng thỏa thuận những điều khoản ràng buộc các bên là một trong những đặc thù của quan hệ dân sự. Pháp luật Việt Nam hiện tại chưa có quy định cụ thể về khái niệm yêu cầu phản tố nhưng có thể hiểu yêu cầu phản tố là yêu cầu của bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản bác ý kiến của nguyên đơn hoặc yêu cầu tố ngược lại nguyên đơn khi cho rằng nguyên đơn là bên xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trong trường hợp luật định.

Thứ nhất, về chủ thể yêu cầu: chủ thể có quyền yêu cầu phản tố trong tố tụng dân sự là bị đơn. căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định. Theo đó, chủ thể có quyền yêu cầu phản tố trong tố tụng dân sự là bị đơn

Thứ hai, về thời điểm đưa ra yêu cầu: bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Thứ ba, về điều kiện được coi là yêu cầu phản tố: yêu cầu của bị đơn được coi là yêu cầu phản tố khi đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây:

Một là, yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Hai là, yêu cầu phản tố được chấp nhân dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Ba là, vụ án sẽ được giải quyết nhanh, chính xác hơn nếu được giải quyết trong cùng một vụ án và giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau.

3. Nguyên đơn rút đơn kiện khi bị đơn yêu cầu phản tố xử lý thế nào? 

3.1. Địa vị tố tụng của nguyên đơn và bị đơn bị thay đổi

Theo quy định tại Điều 245 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thay đổi địa vị tố tụng, cụ thể như sau:

- Bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn trong trường hợp, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình. 

Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên, trong trường hợp này, bị đơn sẽ trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn. 

3.2. Vụ án dân sự bị đình chỉ do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện

Căn cứ theo khoản 2, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì được giải quyết như sau:

- Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập.

- Trong trường hợp bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì tòa án ra quyết định chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; nguyên đơn trở thành bị đơn, bị đơn trở thành nguyên đơn.

- Tòa án ra quyết định chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn trong trường hợp bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút một phần hoặc không rút yêu cầu độc lập. 

Như vậy, qua quy định nêu trên có thể nhận thấy khi nguyên đơn hoặc bị đơn rút yêu cầu khởi kiện thì vụ án dân sự sẽ bị đình chỉ giải quyết. Do đó, trong trường hợp nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện khi bị đơn yêu cầu phản tố thì vụ án dân sự sẽ bị đình chỉ giải quyết. 

 3.3. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi nguyên đơn hoặc bị đơn rút đơn khởi kiện

Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Điều 218 như sau:

- Trừ những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật thì khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp không có sự khác biệt giữa việc khởi kiện vụ án sau với vụ án trước.

- Tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước trong trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 127 hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 127 của Bộ luật này.

- Tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ trong trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. 

- Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. 

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến nội dung trên hoặc vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua số hotline: 19006162 hoặc email lienhe@luatminhkhue để được giải đáp.

Xem thêm: Phản tố là gì? Yêu cầu phản tố trong tố tụng dân sự?