- 1. Yêu cầu phản tố là gì?
- 2. Thời hiệu là gì?
- 3. Về yêu cầu phản tố của bị đơn
- 4. Về thời điểm bị đơn được đưa ra yêu cầu phản tố
- 5. Yêu cầu phản tố
- 5.1. Bản chất của yêu cầu phản tố
- 5.2. Nhầm lẫn giữa thời hạn thực hiện quyền phản tố với việc không áp dụng thời hiệu
- 5.3. Trường hợp không áp dụng thời hiệu với yêu cầu phản tố
1. Yêu cầu phản tố là gì?
Yêu cầu phản tố là yêu cầu của bị đơn đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Phản tố là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự, thực chất việc phản tố của bị đơn là việc bị đơn khởi kiện ngược lại người đã kiện mình (tức là kiện ngược trở lại với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn), nhưng được xem xét, giải quyết cùng với đơn khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có yêu cầu chặt chẽ với nhau.
Yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ phát sinh khi có việc nguyên đơn kiện bị đơn và Toà án có thẩm quyền thụ lý vụ việc đối với yêu cầu của nguyên đơn, sau đó bị đơn cũng cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm và có đơn yêu cầu toà án giải quyết những vấn đề có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn trong cùng một vụ án dân sự.
2. Thời hiệu là gì?
Khoản 1 Điều 149 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.
Trong giao lưu dân sự chủ thể tham gia quan hệ dân sự được hường các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự.
Sự ổn định các quan hệ dân sự là một trong những mục đích điều chỉnh của pháp luật dân sự. Mặt khác, đối tượng của giao lưu dân sự chủ yếu là tài sản để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh, cho nên tài sản luôn có sự biến đổi về hình thức và tính năng, tác dụng. Do vậy cùng với sự thay đổi về thời gian thì tài sản có thể không còn tồn tại.
Khi có hành vi vi phạm đến quyền tài sản của mình, người khởi kiện phải chứng minh nguồn gốc tài sản, loại tài sản, hình thức của tài sản… Tuy nhiên, với thời gian càng lâu thì việc chứng minh càng gặp khó khăn và nhiều trường hợp không thể chứng minh được.
Do vậy pháp luật quy định một thời hạn nhất đinh cho sự phát sinh, tồn tại hay chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự, thời hạn này được gọi là thời hiệu. Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện (Điều 150 BLDS).
Như vậy, Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.
3. Về yêu cầu phản tố của bị đơn
Quyền được đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định tại khoản 1 Điều 200 của BLTTDS năm 2015 như sau: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.”. Nghĩa là sau khi nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án hoặc sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu độc lập của Tòa án, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay vẫn còn có sự nhầm lẫn giữa yêu cầu phản tố của bị đơn với ý kiến của bị đơn dẫn đến trường hợp Tòa án không xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc chỉ là ý kiến của bị đơn nhưng Tòa án lại xem xét giải quyết như yêu cầu phản tố của bị đơn. Những sai sót như vậy, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hoặc là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Trước đây, việc phân biệt yêu cầu phản tố và ý kiến của bị đơn được Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như sau:
- Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết.
Ví dụ: Nguyên đơn A có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn B phải trả lại tiền thuê nhà còn nợ của năm 2005 là năm triệu đồng. Bị đơn B có yêu cầu đòi nguyên đơn A phải thanh toán cho mình tiền sửa chữa nhà bị hư hỏng và tiền thuế sử dụng đất mà bị đơn đã nộp thay cho nguyên đơn là ba triệu đồng. Trường hợp này, yêu cầu của bị đơn B được coi là yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn A.
- Chỉ coi là ý kiến của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu bị đơn có yêu cầu cùng với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Ví dụ: Nguyên đơn C có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận quyền sở hữu đối với một xe ô tô và buộc bị đơn D trả lại cho mình xe ô tô đó. Bị đơn D có yêu cầu Toà án không công nhận xe ô tô này thuộc sở hữu của C mà là của mình hoặc công nhận xe ô tô này thuộc sở hữu chung của C và D. Trường hợp này, yêu cầu của bị đơn D không được coi là yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn C.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 200 của BLTTDS năm 2015 thì yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn; do đó, bị đơn có yêu cầu Toà án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
- Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vì không có căn cứ.
- Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án, thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh chóng hơn.
4. Về thời điểm bị đơn được đưa ra yêu cầu phản tố
Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015 thì “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Quy định bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải là một quy định hoàn toàn mới của BLTTDS năm 2015. Bởi vì thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự nói chung trước đây theo BLTTDS năm 2004 thì nhiều trường hợp bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố ngay từ đầu mà có khi đưa ra yêu cầu phản tố trong thời gian chuẩn bị xét xử, có khi bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa làm cho thời gian giải quyết vụ án kéo dài và làm tăng tính phức tạp của bị án. Tuy nhiên, điểm hạn chế của BLTTDS năm 2015 là không quy định rõ bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ mấy. Vì một vụ án có thể mở nhiều phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải khác nhau. Điều này dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không không nhất giữa các Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, đôi khi là sự “lách luật” để có thể xem xét thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn trong trường hợp bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất.
5. Yêu cầu phản tố
5.1. Bản chất của yêu cầu phản tố
Chúng tôi cho rằng để giải quyết bất kỳ vấn đề gì đều cần phải xem xét và xuất phát từ bản chất của vấn đề đó. Chính vì vậy, việc xem xét một cách thấu đáo, kỹ lưỡng các khía cạnh pháp lý của yêu cầu phản tố có ý nghĩa rất lớn trong việc tìm ra giải pháp pháp lý cho vấn đề đã nêu.
Yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định rải rác trong các điều luật của BLTTDS năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của bị đơn, quyền yêu cầu phản tố của bị đơn, thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập… Tổng cộng có 26 lần cụm từ “yêu cầu phản tố” được đề cập trong BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên, chúng ta không tìm thấy được bất kỳ một định nghĩa chính thức về yêu cầu phản tố. Các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015 cũng không có nội dung nào đưa ra định nghĩa về yêu cầu này.
Trở lại quá khứ, chỉ duy nhất trong nội dung của Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn BLTTDS năm 2004 đưa ra được tiêu chí để nhận diện một yêu cầu có phải là yêu cầu phản tố của bị đơn hay không: “Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết”.
Theo Từ điển Hán Nôm, “phản tố” là bị cáo kiện trở lại nguyên cáo trong cùng vụ án.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “độc lập” là riêng rẽ, là tự mình tồn tại, không phụ thuộc vào ai, vào cái gì khác; “không cùng” là không có sự đồng nhất, không có chung những điểm giống nhau.
Tìm kiếm kỹ, chúng tôi thấy trong BLTTDS năm 2015 ba điều luật có quan hệ gần gũi nhất để định nghĩa nội dung này, gồm:
Khoản 2 Điều 200 BLTTDS năm 2015 về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn:
“…2. Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn”.
Nội dung của điều khoản này nhằm phân loại và nêu lên ý nghĩa của yêu cầu phản tố. Về phân loại, yêu cầu phản tố được chia thành 02 loại mặc dù chúng ta đang thấy được liệt kê trong điều luật là 03, gồm: yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ hoặc yêu cầu phản tố dẫn đến loại trừ yêu cầu của nguyên đơn. Về ý nghĩa, yêu cầu phản tố được giải quyết trong cùng vụ án để chính xác hơn, nhanh hơn và thuận tiện hơn cho các đương sự.
Điều 202 BLTTDS năm 2015 về quy định về thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập như sau: “Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn”. Thủ tục yêu cầu phản tố được thực hiện theo thủ tục khởi kiện của nguyên đơn nghĩa là yêu cầu phản tố của bị đơn phải được gửi cho tòa án bằng đơn khởi kiện, phải nộp tạm ứng án phí nếu không thuộc trường hợp được miễn, rồi kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm… Tòa án khi thụ lý yêu cầu phản tố cũng phải kiểm tra các điều kiện như điều kiện khởi kiện đó là điều kiện về chủ thể, thẩm quyền của Tòa án, sự việc chưa được tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật trừ một số trường hợp; điều kiện do pháp luật nội dung quy định hoặc các bên có thỏa thuận.
Khoản 6 Điều 72 BLTTDS năm 2015 quy định về quyền, nghĩa vụ của bị đơn như sau: “Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác”. Quy định này nêu ra hướng dẫn trong trường hợp yêu cầu phản tố không được tòa án chấp nhận đưa vào giải quyết trong cùng vụ án, nhưng theo chúng tôi, đây lại là quy định thể hiện rõ nhất bản chất pháp lý của yêu cầu phản tố. Quy định cho phép bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác nghĩa là các nhà làm luật ngầm mặc định yêu cầu phản tố như là một yêu cầu khởi kiện. Có như thế, bị đơn mới được khởi kiện bằng một vụ án khác.
Từ các phân tích nêu trên, chúng ta có thể rút ra các đặc trưng của yêu cầu phản tố như sau:
- Là yêu cầu khởi kiện của bị đơn đối với nguyên đơn. Yêu cầu này tự bản thân nó đã là một yêu cầu khởi kiện, không phải phát sinh trên cơ sở của yêu cầu khởi kiện.
- Có thể giải quyết bằng một vụ án khác.
- Để bù trừ nghĩa vụ hoặc loại trừ yêu cầu của nguyên đơn.
- Việc giải quyết trong cùng vụ án là để nhanh hơn, chính xác hơn, thuận tiện hơn cho đương sự.
Do đã xác định được bản chất của yêu cầu phản tố là một yêu cầu khởi kiện nên các quy định về thời hiệu khởi kiện cũng phải được áp dụng đối với yêu cầu phản tố.
5.2. Nhầm lẫn giữa thời hạn thực hiện quyền phản tố với việc không áp dụng thời hiệu
Tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015 quy định: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Đây là một cơ sở để những người ủng hộ cho quan điểm không áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu phản tố dẫn chứng. Theo họ, quy định tại Điều 200 BLTTDS năm 2015 về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn không có nội dung nào xác định bị đơn phải phản tố trong thời hiệu khởi kiện, chỉ cần yêu cầu này đưa ra trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Chúng tôi cho rằng ở đây có sự nhầm lẫn về việc giải thích và áp dụng pháp luật. Để giải quyết một vấn đề pháp lý cần phải áp dụng tổng thể các quy định của pháp luật có liên quan điều chỉnh vấn đề đó. Có như vậy mới bảo đảm tính ổn định và thống nhất trong việc giải thích và áp dụng pháp luật, không rơi vào chuyện áp dụng máy móc.
Mặc dù BLTTDS năm 2015 không có điều khoản quy định trực tiếp về thời hiệu của yêu cầu phản tố nhưng như đã phân tích ở trên, chúng ta thấy thủ tục phản tố được thực hiện theo thủ tục khởi kiện. Như vậy, luật không có quy định trực tiếp nhưng có quy định gián tiếp, không thể nói là không có quy định.
Hơn nữa, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố vào bất kỳ thời điểm nào miễn trước thời điểm quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015. Điều này hoàn toàn đúng. Nhưng đánh đồng điều này với việc không áp dụng thời hiệu với yêu cầu phản tố là có vấn đề.
Giới hạn về thời gian tại khoản 3 Điều 200 là giới hạn để bị đơn thực hiện quyền phản tố. Nhưng việc đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm này chỉ mang lại cho bị đơn kết quả là tòa án chấp nhận đưa vào để giải quyết trong cùng vụ án đang thụ lý. Còn việc Tòa án chấp nhận một phần hay toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn hay không thì phải xem xét nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố về thời hiệu nếu nguyên đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu. Cần phân biệt rõ ràng thì mới tránh được nhầm lẫn.
Tóm lại, nếu thời hiệu phản tố còn, nhưng bị đơn nộp sau thời điểm quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015, Tòa án không chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án, nhưng bị đơn vẫn còn quyền khởi kiện lại. Ngược lại, thời hiệu phản tố hết, nhưng bị đơn yêu cầu trước thời điểm khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015, tòa vẫn thụ lý giải quyết trong cùng vụ án nhưng sẽ bị đình chỉ nếu nguyên đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu.
5.3. Trường hợp không áp dụng thời hiệu với yêu cầu phản tố
Giả sử việc không áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu phản tố là đúng và giả sử B đưa ra yêu cầu phản tố khi đã hết thời hiệu. Vậy ta sẽ có:
Trường hợp thứ nhất: A khởi kiện, B phản tố => Tòa chấp nhận giải quyết và không đình chỉ yêu cầu phản tố của B.
Trường hợp thứ hai: A không khởi kiện, B khởi kiện A (đặt trong trường hợp thứ nhất thì chính là B phản tố. Do đặt trong hoàn cảnh khác nhau nên tên khác nhau, bản chất không thay đổi) => tòa đình chỉ yêu cầu khởi kiện của B.
Cùng một sự việc, bản chất như nhau, chỉ khác tên gọi nhưng ở trường hợp thứ nhất không bị đình chỉ, ở trường hợp thứ hai lại bị đình chỉ, hay nói một cách khác, một sự vật vừa là A, vừa là phủ định A. Vô lý và vi phạm luật logic. Do đó, giả định không áp dụng thời hiệu với yêu cầu phản tố là sai.
Như vậy, qua việc tổng hợp, phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến yêu cầu phản tố cũng như phản biện các quan điểm ủng hộ không áp dụng thời hiệu với yêu cầu phản tố, tác giả đã chứng minh việc áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu phản tố phải được thực hiện như yêu cầu khởi kiện. Hy vọng, bài viết này sẽ góp phần giải quyết được các quan điểm, cách hiểu chưa thống nhất về vấn đề thời hiệu đối với yêu cầu phản tố.