1. Tóm tắt tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương"

" Chuyện người con gái nam Xương" kể về cuộc đời và cái chết thương tâm của một người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết. Cô có tên gọi thường ngày là Vũ Nương, người con gái quê ở Nam Xương. Vũ Nương là một người con gái thùy mị nết na tư dung tốt đẹp được Trương Sinh đem lòng mến mộ nên đã nhờ mẹ đem trăm lạng vàng cưới nàng làm vợ. Biết chồng là người có tính đa nghi, nàng cố gắng từ lời ăn đến tiếng nói cho đến hàng động luôn giữ gìn khuôn phép để gia đình được hòa thuận, ấm êm. Cuộc sống gia đình đang êm ấm, chiến tranh xảy ra, Trương Sinh phải ghi tên tòng quân, Vũ Nương ở nhà sinh con và nuôi con chăm sõ mẹ già. Mẹ Trương Sinh vì nhớm thương con trai mà ốm đâu mòn mỏi, Vũ Nương hết lòng thuốc thang, chăm sóc , động viên nhưng vì bệnh tình trầm trọng nên cụ đã qua đời. Cảm động trước tình mẫu tử thiêng liêng, xót thương mẹ vô hạn, Vũ Nương lo ma chay chu tất. Nghững ngày ở nhà một mình, nàng hay chơi đùa với con, trỏ bóng mình trên vách bảo đây là cha đứa nhỏ. Vậy mà chồng nàng, sau khi đi lính trở về, vì nghe lời ngây thơ của con trẻ, chưa làm rõ đầu đuôi câu chuyện đã nghi oan cho nàng. Vũ Nương hết mực thanh minh, giải thích nhưng vô dụng. Vì uất ức, Vũ Nương tìm đến cái chết, nàng tự tử ở bến Hoàng Giang được Linh Phi cứu, sống kiếp đời ở chốn thủy cung. Sau này, khi đã biết rõ mọi chuyện, Trương Sinh cảm thấy hối hận, được người Phan Lang gửi lời từ Vũ Nương đến chàng, Trương Sinh cho người lập đàn giải oan cho vợ, nhưng hình bóng Vũ Nương hiện về lúc ẩn lúc hiện, nàng vĩnh viễn sống ở thủy cung, không thể quay về nhân gian.

>> Xem thêm: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương hay

 

2. Bộ câu hỏi ôn tập Chuyện người con gái Nam Xương

2.1. Nguyên nhân dẫn tới cái chết của Vũ Nương?

- Nguyên nhân trực tiếp: Đêm đêm, dưới ngọn đèn khuya, Vũ Nương thường "trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản". Cái bóng trên vách khiến bé Đản ngộ nhận là cha mình, sau khi người cha trở về thì không chịu nhận và ngây thơ, vô tình nói khiến mẹ bị oan. 

=> Những lời nói thật của con đã làm thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng Trương Sinh.

- Nguyên nhân gián tiếp: 

+ Do cuộc hôn nhân không bình đẳng: Vũ Nương là "con kẻ khó" được Trương Sinh đem trăm lạng vàng để xin cưới. Đây là sự đối lập về giàu nghèo, trái ngược về hoàn cảnh trong xã hội phong kiến mà đồng tiền bắt đầu làm đen bạc thói đời.

+ Do tính cách của Trương Sinh: đa nghi hay ghen đã sản sinh ra sự hồ đồ, độc đoán, gia trưởng sẵn sàng thô bạo với Vũ Nương, đây chính là mầm mống của bi kịch sau này khi có biến cố xảy ra. Biến cố là khi Trương Sinh đi lính xa nhà, khi về mẹ già đã mất. Mang theo tâm trạng buồn khổ, chàng bế đứa con ra thăm mộ mẹ, đứa trẻ đã quấy khóc không chịu nhận cha. Lời nói ngây thơ của đứa trẻ khiến chàng đau lòng: "Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít". Trương Sinh gặng hỏi đứa trẻ lại đưa thêm những thông tin đáng nghi.

+ Do cách cư xử hồ đồ, thái độ phũ phàn, thô bạo của Trương Sinh. Chàng vốn là kẻ không có học lại hay ghen tuông làm cho mờ mắt, Trương Sinh không đủ bình tĩnh, sáng suốt để phân tích những điều phi lý của đứa trẻ. Con người ích kỷ để rồi vội vàng kết luận, chắc nịch theo quan điểm cá nhân cho rằng Vũ Nương không thủy chung. Chàng bỏ ngoài tai tất cả những biện minh, phân giải từ vợ. Khi Vũ Nương hỏi thì giấu không kể lời con nói. Ngay cả những bênh vực của họ hàng, làng xóm cũng không thể cởi bỏ oan khuất của Vũ Nương. Trương Sinh bỏ qua mọi cơ hội cứu vãn tấn thảm kịch, không nghĩ đến tình cảm vợ chồng, không quan tâm đến công lao to lớn của Vũ Nương đối với gia đình mình. Qua đó cho thấy Trương Sinh mang đậm tính cách độc đoán, gia trưởng của chế độ nam quyền bất công, thiếu lòng tin và thiếu tình thương.

+ Do lễ giáo phong kiến hà khắc, phụ nữ không có quyền nói, quyền được bảo vệ mình. Trong lễ giáo ấy, chữ trinh quan trọng hàng đầu, người phụ nữ khi đã mang tiếng thất tiết với chồng thì bị cả sẽ hội hắt hủi, chỉ còn con đường chết để minh oan cho bản thân. Hơn nữa, chế độ nam quyền đã dung túng, cổ xúy cho thói gia trưởng, ích kỉ của người đàn ông, cho họ cái quyền tàn phá hạnh phúc mong mang của người phụ nữ.

+ Vũ Nương không chỉ là nạn nhân của chế độ nam quyền mà còn là nạn nhân của chiến tranh phong kiến. Chiến tranh đã gây nên cảnh sinh ly, góp phần dẫn đến cảnh tử biệt. Trương Sinh phải đi lính, thời gian xa cách như ngọn lửa âm ỉ đã thổi bùng trong con người vốn đa nghi và vô học.

 

2.2. Những cái bóng xuất hiện trong tác phẩm? Ý nghĩa của chi tiết cái bóng?

Tác phẩm có sự xuất hiện của 2 cái bóng:

- Cái bóng "trên tường" là hình dung về "cha Đản" vừa là chi tiết thắt nút, vừa là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết đầy oan trái của Vũ Nương. Ở đây, chi tiết mở nút là khi Trương Sinh nhận ra cái bóng trên tường chính là mình, nhận ra mình đã nghi oan vô cớ cho Vũ Nương. Chi tiết cái bóng qua đó mà góp phần làm hoàn thiện thêm vẻ đẹp nhân cách của nàng, đồng thời thể hiện rõ hơn về số phận bi kịch của người phụ nữ, cụ thể hơn là Vũ Nương. Cái bóng trên tường góp phần tố cáo những oan trái, bất công mà người phụ nữ gặp phải trong xã hội phong kiến.

Nguyên nhân dẫn tới cái chết của Vũ Nương? Ý nghĩa của chi tiết cái bóng?

- Cái bóng "trên sông" trong ngày giải oan Vũ Nương hiện về: cái bóng magn ý nghĩa của chi tiết kì ảo.

  • "Chiến bóng" xuất hiện ở cuối truyện: "Rồi trong chốt lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất" cho thấy giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.
  • Chiếc bóng mang ý nghĩa thức tỉnh người đọc về một bài học hạnh phúc: Khi mà đã đánh mất niềm tin thì khó có thể lấy lại được, chỉ là cái bóng mờ ảo, hư vô. Nỗi oan đã được giải nhưng Vũ Nương không thể trở về trần gian. Cuối cùng vẫn là bi kịch về cuộc đời của người con gái thủy chung, đức bạnh.

 

2.3. Ý nghĩa các chi tiết kì ảo

* Các chi tiết kì ảo trong câu chuyện:

- Phan Lang nằm mộng thấy người con gái áo xanh đến xin tha mạng, sáng hôm sau ông được người phường chài đem biếu con rùa rồi  mang đi thả .

- Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa,vì có công nên gặp Linh Phi và được cứu giúp. Sau đó, gặp lại Vũ Nương và được sứ giả của Linh Phi rẽ đường nước đưa về dương thế.

- Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang, hiện về lung linh trên kiệu hoa, huyền ảo, nói lời từ biệt rồi lại biến đi mất.

* Cách đưa các chi tiết kì ảo:

Các chi tiết kì ảo được xen kẽ với những yếu tố thực về địa danh, thời điểm lịch sử, những chi tiết về trang phục của các mỹ nhân, về tình cảnh của Vũ Nương không người chăm sóc sau khi nàng mất. Điều này làm cho thế giới ảo trở nên lung linh, mơ hồ gần giũ với thực tại, là, tăng độ tin cậy, khiến người đọc không cảm thấy ngỡ ngàng.

* Ý nghĩa của các chi tiết kì ảo:

- Đặc trưng của loại truyện truyền kì. 

- Làm tăng thêm giá trị hiện thực và ý nghĩa nhân văn cho tác phẩm.

- Tô màu cho nét đẹp của Vũ Nương: nặng tình, nặng nghĩa, yêu thương và quan tâm hết mực với chồng con, phần mộ tổ tiên, khao khát được giải oan cho chính mình.

- Tạo nên phần nào một kết thúc có hậu cho câu chuyện ở một ý nghĩa nào đó:

  • Thể hiện ước mơ con ngưởi về sự bất tử, sự chiến thắng của cái thiện, cái đẹp. Thể hiện nỗi khát khao cuộc sống công bằng, hạnh phúc cho người lương thiện, đặc biệt là người phụ nữ.
  • Thể hiện về uớc mơ, về lẽ công bằng ở cõi đời của nhân dân ta.

- Chi tiết kì ảo không làm mất đi tính bi kịch của câu chuyện. Vũ Nương trở về trần thế mà vẫn bị xa cách bởi âm dương, hạnh phúc giữa chồng và nàng chia lìa đôi ngả, vĩnh viễn rời xa. Nguyễn Dữ tài tình khi đưa người đọc cuốn vào giấc mộng chiêm bao rồi lại kéo trở về thực tại. Sương khói giải oan dần tan đi, còn lại một sự thật cay đắng: nỗi oan của người phụ nữ. Sự ân hận muộn màng của người chồng, đàn cầu siêu của tôn giáo đều không cứu vãn được người phụ nữ. Đây là giấc mơ và cũng là lời cảnh tỉnh của tác giả. Tất cả để lại sự ngậm ngùi trong lòng người đọc, sự thương cảm cho số phận của người phụ nữ và là bài học thấm thía về giữ gìn hạnh phúc gia đình.

 

2.4. Phân tích từng lời thoại của Vũ Nương đối với chồng

  • Lần 1: Tiễn chồng đi lính

- Nàng dặn dò chồng với những lời thiết tha, tình nghĩa. Nàng không trông mong vinh hiển, chỉ cầu mong cho chồng được trở về bình an. Lời dặn cho thấy nàng luôn coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phú quý: "Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi."

- Nàng như thấy trước và cảm thông cho những nỗi vất vảm khổ cực mà chồng sắp phải trải qua nơi chiến trường khốc liệt: "Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng."

- Nàng bộc lộ nỗi nhớ nhưng khắc khoải, xa nhớ của mình: "Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoan, lại thổn thức tâm tình thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng cũng sợ không có cánh hồng bay bổng."

=> Đó là những lời nói ân tình, đằm thắm, thiết tha của người phụ nữ thùy mị, dịu dàng và rất mực yêu thương chồng con. Nàng gửi tới chàng những lời căn dặn đầy áp những yêu thương xuất phát từ trái tim của một người phụ nữ mang vẻ đẹp toàn vẹn trong xã hội phong kiến, nàng biết chấp nhận sự xa cách, viết chờ đợi để chồng yên tâm làm việc phương xa. Qua đó thể hiện khát vọng bình dị của người phụ nữ.

  • Lần 2: Khi bị chồng nghi oan, nàng phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng trinh bạch của mình

- Nàng nhắc đến thân phận và hoàn cảnh của mình để có được tình nghĩa vợ chồng: "Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì đọng việc lửa binh."'

- Nàng khẳng định tắm lòng thủy chung, son sắt, trong trắng, vẹn nguyên chờ chồng: "Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nét hư thân như lời chàng nói."

Nàng xin chồng đừng nghi oan cho mình: "Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp."

=> Nàng phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình bằng những lời lẽ tha thiết, hết lòng nhún nhường để mong được cứu vãn, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Không những thế còn cho thấy nàng vô cùng trân trọng chồng và gia đình nhà chồng. 

  • Lần 3: Chàng không hiểu cho tấm lòng nàng. Không còn hi vọng, nàng nói những lời đau đớn, thất vọng.

- Nàng bày tỏ hạnh phúc gia đình là "Thú vui nghi gia nghi thất"  cho thấy niềm khát khao  về một gia dình đoàn tụ, sum vầy đã bị tan vỡ.

- Nàng  nói về số phận trớ trêu, ví tình yêu như "Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa...."

- Nàng đau lòng, đến nỗi đau chờ chồng đến hóa đá của cổ nhân nàng cũng không có được: "...đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa."

=> Tình yêu và hạnh phúc gia đình vốn là cơ sở tồn tại của người vợ trẻ giờ đã không còn ý nghĩa gì nữa. Nàng đau đớn thất vọng khi mình bị nghi oan, bị đối xử bất công. Sự tuyệt vọng đến cùng cực khi khao khát của cả đời nàng vun đắp bị sụp đổ. 

  • Lần 4: Cự tuyệt quyền yêu, quyền hạnh phúc, nàng cự tuyệt quyền tồn tại.

- Nàng nói về thân phận bạc mệnh của mình: "Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám."

- Vũ Nương mượn bến Hoàng Giang để dãi bày tấm lòng trong trắng mà minh oan cho mình: "Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho tôm cá, trên xin làm cơm cho diều quạ."

- Nàng tìm đến cái chết sau mọi sự cố gắng dùng mọi lời nói minh oan mà không thành.

=> Nàng đọc thoại với lòng mình, với thần sông. Lời đọc thoại như một tiếng than thở, một lời nguyền xin thần sông chứng giắm cho sự trong sạch của nàng. Lời độc thoại là tiếng lòng của người phụ nữ bị chồng ngờ vực, là nỗi thất vọng đến tột cùng của người phụ nữ phẩm giá bị nghi oan buộc phải tìm đến cái chết.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Suy nghĩ về cái chết của Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương

 

2.5. Tác giả muốn gửi gắm điều gì vào tác phẩm?

Vũ Nương luôn khao khát về một gia đình hạnh phúc, ấm êm dù sống hay đã thác làm ma. Nàng vì chịu nỗi oan cay nghiệt muốn khẳng định phẩm giá trong sạch mà chết. Vì lòng thanh sạch của mình , nàng được Linh Phi đưa về thủy cung. Trong những sống nơi cung nước, lòng nàng vẫn không nuôi thương nhớ chồng con. Nhân dịp gặp Phan Lang, Vũ Nương đã nhờ Lang nhắn gửi Trương Sinh lập đàn giải oan là để chính chồng của nàng chiêu tiết  và hiểu được tấm lòng thủy chung của nàng. Trương Sinh liền làm theo. Vũ Nương nhìn thấy Trương Sinh đang lập đàn giải oan cho mình. Thấy nàng từ xa, Trương Sinh gọi to Lòng Vũ Nương bồi hồi, xót xa khôn xiết. Nhưng âm dương cách biệt, giữa Vũ Nương và Trương Sinh đã có một hố sâu ngăn cách không sao hàn gắn được. 

Qua chi tiết này, Nguyễn Dữ không chỉ khắc họa sâu sắc vbi kịch của Vũ Nương mà một lần nữa cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của nàng. Lời thoại Vũ Nu0owng không trở về vì đã thề với đức Linh Phi  còn chứng tỏ nàng là người sống ân nghĩa, đã mang ơn với Linh Phi thì nàng sẽ trả ân đức đó.

 

2.6. Phân tích ý nghĩa của lời thoại sau

"Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa."

- Lời nói cuối cùng của Vũ Nương dành cho trương Sinh được vọng lên từ giữa dòng sông khi chàng lập đàn giải oan cho nàng.

- Khi xây dựng lời thoại cuối cùng của tác phẩm, Nguyễn Dữ đã hoàn thiện vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Vũ Nương. Vũ Nương không thể quay trở về trần gian nhưng khát vọng về cuộc sống nơi trần thế vẫn luôn trào dâng trong lòng nàng.

- Câu nói cho thấy dù trong bất kì hoàn cảnh nào thì Vũ Nương vẫn là người phụ nữ thủy chung, giàu ân nghĩa. Dù nỗi oan đã được sáng tỏ nhưng điều đó không thể giúp nàng trở về cõi trần để sum họp với chồng con vì ân đức của Linh Phi.

- Sự trân trọng ân nghĩa, thủy chung của Vũ Nương chính là sự trân trọng danh dự nhân phẩm của bản thân. Đối với người con gái đức hạnh và giàu đức hi sinh, phẩm giá còn cao hơn sự sống, nó thiêng liêng hơn khát vọng trở về nhân gian dù khát vọng ấy vô cùng tha thiết. Đây chính là lí do Vũ Nương không trở về nhân gian.

- Câu nói là lời tố cáo xã hội phong kiến- một xã hội đầy bất công ngang trái, xã hội không có đất để cho những người phụ nữ như Vũ Nương được sống.

 

2.7. Qua bi kịch của Vũ Nương, cho biết suy nghĩ của bạn về số phận người phụ nữ xưa?

- Số phận bất hạnh của người phụ nữ dưới chế dộ phong kiến, những người con gái bạc mệnh. Họ không làm chủ được vận mệnh của mình, không thể đứng ra bảo vệ giá trị nhân phẩm của mình, sống cam chịu, nhẫn nhục. Và chính sự cam chịu, nhẫn nhục ấy càng làm cho những bất công, ngang trái đè năng lên cuộc đời, số phận người phụ nữ.

- Xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công, vô cớ giáng xuống người phụ nữ với những luật lệ khắt khe, vô nhân đạo. Xã hội ấy dung túng cho chế độ nam quyền hà khắc, trọng nam khinh nữ, cho người đàn ông những quyền chà đạp lên số phận của những người chân yếu tay mềm. Chế độ đa thê gây bao cảnh oan trái đau lòng.

 

2.8. Hành động trẫm mình xuống dòng sông tự vẫn của Vũ Nương cho thấy điều gì?

Hành động trẫm mình xuống nước của Vũ Nương là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo vệ phẩm giá, là lời khẳng định do Trương Sinh ghen tuông và do chiến tranh phong kiến. Trước hết, Trương Sinh hay ghen là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cái chết của Vũ Nương. Vì không kiềm chế được bản thân, sáng suốt suy xét, nhìn nhận vấn đề từ hai hướng và chịu lắng nghe lời nói của người khác,... thì mọi chuyện đã rẽ sang một hướng khác, cái chết của Vũ Nương sẽ không xảy ra. Chiến tranh phong kiến được cho là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cái chết bi thương của người phụ nữ. Nhưng hiểu như thế thì không hẳn đúng, chiến tranh khiến Trương Sinh phải xa rời vợ con đi lính nhưng nếu Trương Sinh là người hiểu vợ, biết lắng nghe vợ thì cái chết không xảy ra với Vũ Nương. Một mặt khác, chính vì trương Sinh phải đi lính xa nhà nên mới xảy ra sự hiểu lầm đáng tiếc và một phần do con thơ vô tình hại mẹ, do Vũ Nương yếu đuối hoặc là do lễ giáo phong kiến quá khắt khe. hành động trâm mình xuống dòng sông tự vẫn còn do chế độ xã hội phong kiến không bảo vệ được quyền sống, quyền hạnh phúc cho người phụ nữ. Số phận họ mong manh, dễ vỡ; tai họa, oan ức có thể giáng xuống đầu họ bất cứ lúc nào vì những lí do vô cùng nhỏ. Như vậy, bi kịch của Vũ Nương vượt khỏi giới hạn bi kịch của một gia đình, đó là bi kịch số phận của lớp người trong xã hội. Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện cũng vì thế mà có tầm khái quát cao hơn.

 

2.9. Qua nhân vật Trương Sinh, tác giả muốn phê phán điều gì?

Khi nghe lời nói ngây thơ của em bé Đản, sự tức giận của Trương Sinh vừa đáng trách vừa đáng thương. Đáng thương là khi người chồng không ở cạnh vợ, đi làm xa, phát hiện vợ không chung thủy với mình nên khi nghe vợ mình bị những hành vi sai trái, lăng loàn sẽ khó có thể kiểm soát được cảm xúc. Đáng trách là khi Trương Sinh chưa nghe giải thích của vợ mà cố tình đẩy cô vào hoàn cảnh bị nghi oan. Chàng không tin tưởng vợ mình cho nên khi đi lính trở về, nghe lời con trẻ, lòng ghen tuông của chàng trỗi dậy lấn át cả tình yêu thương, chàng đã có những hành động mù quáng, đổ oan cho vợ mình dẫn đến sự việc đáng tiếc xảy ra. Trương Sinh là một con người gia trưởng, cố chấp, bảo thủ. Chàng luôn bảo vệ những quan điểm cá nhân mình mà không mảy may để ý lời giãi bày, tâm sự và góp ý của người khác. Chàng không trình bày sự việc cho vợ mình, khẳng định điều mình nghĩ là đúng, luôn có những hành động ích kỷ, đê tiện đã đẩy vợ đến con đường kết thúc số phận để rửa nhục cho bản thân.

Qua nhân vật Trương Sinh, tác giả muốn gửi gắm đến người đọc đó là phê phán tính cách con người, đặc biệt là người đàn ông gia trưởng cần phải có cái nhìn toàn diện hơn, mọi việc đều phải nghe từ hai phía. Đồng thời phê phán bản chất của xã hội phong kiến với chế độ phụ hệ luôn có quan điểm: mọi việc trong gia đình phải theo sự sắp xếp của người đàn ông. Điều đó đẫ đẩy những người phụ nữ rơi vào những hoàn cảnh đau thương, đáng tiếc như Vũ Nương. 

>> Tham khảo ngay: Phân tích vẻ đẹp và số phận bi kịch của Vũ Nương chọn lọc hay nhất

Chuyện Người con gái Nam Xương là câu chuyện truyền kì đặc sắc và ý nghĩa. Trên đây là những câu hỏi liên quan đến đề tài Nguyên nhân dẫn đến cái chết của Vũ Nương? Ý nghĩa của chi tiết cái bóng? Bên cạnh đó chúng tôi có rất nhiều bài viết liên quan đến tác phẩm, mời bạn đón xem. Trong quá trình tham khảo, nếu có những thắc mắc cần được giải đáp, hãy gọi tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được hỗ trợ. Luật Minh Khuê rất mong được cộng tác và giúp đỡ bạn. Chúc bạn hoàn thành bài tập thật tốt. Cảm ơn bạn!