1. Đồng thuận nghịch là gì?
Trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh giữa các quốc gia thành viên của WTO được giải quyết theo quy định của WTO. Việc thông qua thoả thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp đã tạo nền tảng, cơ sở pháp lí cho việc giải quyết các tranh chấp này. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO chính là Đại hội đồng WTO, đây vừa là cơ quan thường trực vừa là cơ quan tiến hành giải quyết tranh chấp (DSB).
Khi tiến hành giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên, bên cạnh việc phải tuân thủ các nguyên tắc như: nguyên tắc công khai và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, nguyên tắc bảo hộ thông thường, nguyên tắc không phân biệt đối xử,...thì DSB cần tuân thủ nguyên tắc:
Nguyên tắc "đồng thuận phủ quyết" hay còn được gọi với tên khác là nguyên tắc "đồng thuận nghịch"
- Căn cứ theo Điều 2.4 Thoả thuận ghi nhận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết các tranh chấp quy định: khi các thủ tục, quy tắc của thoả thuận về ghi nhận các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp quy định DBS phải ra quyết định, thì DBS phải ban hành ra quyết định trên cơ sở sự đồng thuận của các bên. DSB được coi là đã quyết định đồng thuận về vấn đề được đêk trình lên DSB để xem xét, trường hợp không có thành viên nào tại cuộc họp của DSB sẽ quyết định vấn đề này và chính thức phản hồi quyết định đã được đề xuất.
- Tại Điều 6.1 Thoả ước quy định: trường hợp nguyên đơn có yêu cầu, một ban hội thẩm phải được thành lập chậm nhất là tại cuộc họp mà tại đó yêu cầu này lần đầu tiên được đưa ra như một mục độc lập của chương trình nghị sự DSB, trừ trường hợp tại cuộc họp đó DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thành lập hội thẩm.
- Tại Điều 16.4 Thoả ước quy định: Trong vòng 60 ngày sau ngày chuyển báo cáo của ban hội thẩm tới các Thành viên, báo cáo này phải được thông qua tại phiên họp DSB, trừ khi một bên tranh chấp chính thức thông báo cho DSB về quyết định kháng cáo của mình hoặc DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận thông qua bản báo cáo. Nếu một bên đã thông báo quyết định kháng cáo của mình, thì DSB có trách nhiệm phải không xem xét thông qua báo cáo của ban hội thẩm lập đến khi hoàn thành việc phúc thẩm. Thủ tục thông qua phải đáp ứng điều kiện không làm hại đến quyền của các thành viên được thể hiện qua quan điểm về báo cáo của hội thẩm.
- Điều 17.14 Thông qua báo cáo của cơ quan Phúc thẩm quy định: Báo cáo của cơ quan phúc thẩm phải được DSB thông qua và được các bên tranh chấp chấp thuận vô điều kiện trừ khi DSB đưa ra phán quyết trên cơ sở đồng thuận không thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm trong vòng 30 ngày sau khi báo cáo đó được chuyển tới các thành viên. Thủ tục thông qua này phải không làm phương hại đến quyền của các Thành viên thể hiện quan điểm của mình về bản báo cáo của cơ quan Phúc thẩm.
Căn cứ các quy định nêu trên, việc DSB ra quyết định thành lập ban hội thẩm thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đều dự trên nguyên tắc đồng thuận nghịch.
Đây là một nguyên tắc mới theo đó một quyết định không chỉ không được thông qua khi tất cả các thành viên DSB bỏ phiếu không thông qua,điều này đồng nghĩa với việc các quyết định của DSB hầu hết được thông qua tự động.
Vì vậy, nguyên tắc đồng thuận nghịch được hiểu là trong mọi trường hợp, Ban Hội thẩm được thành lập giải quyết tranh chấp, các Báo cáo của Ban hội thẩm, của Cơ quan Phúc thẩm được thông qua, ngoại trừ trường hợp DSB nhận thấy có sự đồng thuận không thành lập ban hội thẩm hay không thông qua Báo cáo của Ban hội thẩm của cơ quan phúc thẩm. Nguyên tắc này khắc phục những nhược điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp GATT 1947 khi áp dụng các nguyên tắc đồng thuận truyền thống đó là mọi quyết định chỉ được thông qua khi tất cả các thành viên bỏ phiếu thông qua.
Điểm độc đáo và tiến bộ trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO so với GATT trước đây đó là sư ra đời của Ban hội thẩm có thể được thành lập dựa trên yêu cầu của nguyên đơn một cách tự động, đồng thời các báo cáo được thông qua tự động.
2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau: nhanh chóng, công bằng, chấp nhận và hiệu quả đối với tranh chấp của các bên nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên nhằm đảm bảo sự phù hợp với hiệm định thương mại liên quan đối với việc tuân thủ các quy định pháp luật tập quán quốc tế. Các cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
2.1. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO được gọi là Dispute Settlement Body( DSB), đây chính là đại hội đồng WTO, đây vừa laf cơ quan thường trực và vừa là cơ quan tiến hành giải quyết tranh chấp. DSB có chủ tịch riêng và thành viên trong DSB chính là các đại diện của các nước thành viên trong Đại hội đồng, ngoài ra còn có ban thư kí của WTO hỗ trợ, góp phần quan trọng trong quá trình tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp.
- Những thẩm quyền của DSB
- DSB có quyền thành lập Ban hội thẩm nhằm giải quyết từng tranh chấp khi có yêu cầu của nguyên đơn, thành lập và tiến hành giám sát hoạt động của Cơ quan phúc thẩm.
- DSB đảm bảo, giám sát việc thực thi phán quyết, khuyến nghị của cơ quan Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm thông qua việc cho phéo hoặc không cho phép áp dụng biện pháp trả đũa hoặc đình chỉ thi hành các nhượng bộ cũng như nghĩa vụ khác căn cứ theo hiệp định có liên quan.
- Những chức năng của DSB
- Giám sát việc thi hành Thoả thuận DSU với mục đích tạo dựng, duy trì cơ chế giải quyết tranh chấp công khai, thống nhất, hiệu quả và khách quan.
- Giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên theo các nguyên tắc, trình tự thủ tục theo DSU và DSB có chức năng đưa ra phán quyết cuối cùng.
- Ban hành, xây dựng quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp nhằm đảm bảo nghĩa vụ thực thi thoả thuận DSU của các bên.
2.2. Quy chế "nhóm chuyên gia"
- Những nhóm chuyên gia do DSB thành lập có chức năng giải quyết tranh chấp cụ thể, sau khi giải quyết xong , nhóm chuyên gia này sẽ giải thể.
- Nhóm chuyên gia được ưu tiên lựa chọn trong số những chuyên gia độc lập với điều kiện không làm việc cho chính phủ, nhóm chuyên gia này phải có uy tín quốc tế về luật thương mại quốc tế, thông thường mỗi nhóm chuyên gia gồm 3-5 người.
- Nhiệm vụ của nhóm chuyên gia là trợ giúp các cơ quan giải quyết tranh chấp làm sáng tỏ nội dung tranh chấp, khuyến nghị giải pháp cho các bên tranh chấp, tìm kiếm thông tin các nguồn và trưng cầu ý kiến giám định.
- Thời gian giải quyết tranh chấp nhiều nhất không quá một năm kể từ khi các bên tranh chấp thương lượng cùng nhau đến khi nhóm chuyên gia báo cáo cho DSB. Thời gian thành lập nhóm chuyên gia không quá 6 tháng tính từ thời điểm thành lập nhóm chuyên gia đến khi đệ trình báo cáo cho DSB.
- Với các tranh chấp liên quan đến hàng hoá dễ hư hỏng, thời gian gửi báo cáo của nhóm chuyên gia cho các bên tranh chấp và các bên liên quan là 3 tháng và gửi tới các quốc gia thành viên WTO 3 tuần sau đó, trong 6 tháng báo cáo của chuyên gia phải được gửi tới cho các bên tranh chấp. Sau 60 ngày, báo cáo của nhóm chuyên gia trở thành quyết định DSB trong trường hợp không có sự đồng thuận của các quốc gia thnahf viên WTO.
2.3. Cơ quan phúc thẩm thường trực
Cơ quan phúc thẩm thường trực do WTO thành lập gồm 7 thành viên, do cơ quan giải quyết tranh chấp bổ nhiệm và có nhiệm kì 4 năm. Những thành viên trong cơ quan thường trực đều là những chuyên gia pháp lý, thương mại quốc tế có kinh nghiệm.
Chức năng chính của cơ quan phúc thẩm thường trực đó là xem xét thủ tục phúc thẩm và tiến hành báo cáo cho nhóm chuyên gia dựa trên sự đề nghị của các bên tranh chấp. Cơ quan phúc thẩm thường trực đệ trình báo cáo lên DSB, việc DSB thông qua báo cáo của cơ quan phúc thẩm thường được thông qua tự động.
Trên đây là những chia sẻ của Luật Minh Khuê về một số vấn đề liên quan tới việc giải quyết các tranh chấp thương mại của WTO, đặc biệt là nguyên tắc đồng nghịch thuận, hi vọng đó là những thông tin hữu ích giành cho bạn.