- 1. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mua bán nợ Việt Nam (“DATC”)
- 2. Quy định chung về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mua bán nợ Việt Nam
- 2.1. Ngành nghề kinh doanh chính của DATC
- 2.2. Một số quy định khác liên quan đến DATC
- 3. Nguyên tắc hoạt động của Công ty TNHH một thành viên Mua bán nợ Việt Nam
- 4. Nguyên tắc huy động vốn
- 5. Nguyên tắc sử dụng vốn
1. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mua bán nợ Việt Nam (“DATC”)
– Hỗ trợ tái cơ cấu, sắp xếp chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100 vốn điều lệ thông qua hoạt động tiếp nhận, mua, xử lý nợ và tài sản;
– Mua, xử lý các khoản nợ và tài sản trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc: (i) Bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước đầu tư tại DATC; (ii) Ưu tiên tập trung nguồn lực của DATC để hỗ trợ tái cơ cấu, sắp xếp chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thông qua hoạt động tiếp nhận, mua, xử lý nợ và tài sản; và (iii) tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động mua, bán, xử lý nợ và tài sản theo cơ chế thị trường.
– DATC thực hiện các nhiệm vụ khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan đại diện chủ sở hữu giao.
2. Quy định chung về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mua bán nợ Việt Nam
2.1. Ngành nghề kinh doanh chính của DATC
– Tiếp nhận, xử lý nợ và tài sản;
– Mua, xử lý nợ và tài sản;
– Tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua hoạt động mua, bán, xử lý nợ.
Đặc biệt tại Nghị định số 129, Chính phủ đã ban hành cơ chế đặc thù hoạt động của DATC về tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán nợ. Theo đó, DATC được thực hiên cơ chế hỗ trợ quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước, để hỗ trợ quá trình chuyển đổi sở hữu, góp phần phục hồi sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.
2.2. Một số quy định khác liên quan đến DATC
– Ngoài biện pháp chuyển nợ thành vốn góp để xử lý nợ, Nghị định số 129 cho phép DATC hỗ trợ bằng hình thức cho vay vốn đối với các doanh nghiệp tái cơ cấu do DATC sở hữu trên 50% vốn đang gặp khó khăn về tài chính và bảo lãnh vay vốn tại các tổ chức tín dụng.
Việc bổ sung quyền cung cấp tài chính hoặc bảo lãnh cho các doanh nghiệp được DATC tham gia tái cơ cấu sẽ giúp doanh nghiệp là đối tượng được DATC hỗ trợ (có vốn góp chi phối của DATC) đang gặp khó khăn về tài chính, thua lỗ có thể huy động được vốn lưu động để sản xuất kinh doanh.
– DATC do Nhà nước làm chủ sở hữu. Chính phủ thống nhất thực hiện quyền, nghĩa vụ chủ sở hữu Nhà nước đối với DATC. Bộ Tài chính thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước theo phân công, phân cấp của Chính phủ.
Hội đồng thành viên DATC thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với DATC theo quy định của pháp luật và Điều lệ của DATC.
Trên đây là một số điểm mới của Nghị định số 129 về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mua bán nợ Việt Nam.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/12/2020 và bãi bỏ các nội dung quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của DATC tại Quyết định số 109/2003/QĐ-TTg ngày 05/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp.
3. Nguyên tắc hoạt động của Công ty TNHH một thành viên Mua bán nợ Việt Nam
Nguyên tắc hoạt động của Công ty TNHH một thành viên Mua bán nợ Việt Nam quy định tại Điều 3 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 62/2021/TT-BTC, cụ thể như sau:
- Công ty được xác lập quyền sở hữu, quyền quản lý và sử dụng đối với nợ và tài sản đã mua, tiếp nhận; thực hiện quản lý, sử dụng và hạch toán theo dõi các khoản nợ và tài sản theo quy định tại Quy chế này và các quy định hiện hành của pháp luật có liên quan.
- Mỗi khoản nợ mua của Công ty (theo thỏa thuận hoặc chỉ định) được xác định là một loại hàng hóa, Công ty có trách nhiệm tổ chức hạch toán, theo dõi từng khoản nợ mua.
- Đối với các khoản nợ và tài sản tiếp nhận từ các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu hoặc tiếp nhận theo chỉ định của cấp có thẩm quyền, sau khi tiếp nhận, Công ty quản lý, theo dõi ngoài Báo cáo tình hình tài chính và xử lý theo quy định của pháp luật và Quy chế này.
- Việc chuyển nợ thành vốn góp gắn với tái cơ cấu doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu được thực hiện theo phương án đã thỏa thuận (bằng văn bản) với cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án tái cơ cấu doanh nghiệp, phù hợp quy định của pháp luật về sắp xếp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp khác, việc chuyển nợ thành vốn góp gắn với tái cơ cấu doanh nghiệp thực hiện theo nguyên tắc thỏa thuận với chủ sở hữu doanh nghiệp.
- Việc sử dụng các khoản nợ và tài sản để góp vốn theo nguyên tắc có hiệu quả trên cơ sở phương án mua, xử lý nợ và tài sản được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định. Các tài sản (không bao gồm nợ) trước khi góp vốn phải được xác định lại giá trị bởi các tổ chức có chức năng thẩm định giá theo quy định của pháp luật.
- Khi thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận, mua, bán, xử lý nợ và tài sản theo chỉ định của cấp có thẩm quyền, Công ty triển khai thực hiện trên cơ sở phương án phù hợp với ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền và quy định tại Điều lệ của Công ty.
- DATC không thực hiện hợp nhất báo cáo tài chính của các doanh nghiệp có vốn góp chi phối của DATC thông qua tái cơ cấu nợ theo hình thức chuyển nợ thành vốn góp.
DATC thực hiện thoái vốn trong thời hạn 05 năm kể từ ngày DATC chính thức trở thành cổ đông tại các doanh nghiệp có vốn góp chi phối thông qua tái cơ cấu. Trường hợp quá thời hạn 05 năm mà DATC chưa thực hiện thoái vốn, DATC báo cáo nguyên nhân và đề xuất biện pháp xử lý để Bộ Tài chính xem xét, có ý kiến bằng văn bản.
- DATC thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
4. Nguyên tắc huy động vốn
Để huy động vốn, DATC phải căn cứ chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của Công ty. Phương án huy động vốn đảm bảo có hiệu quả và khả năng thanh toán nợ. Người phê duyệt phương án huy động vốn chịu trách nhiệm giám sát, kiểm tra, bảo đảm vốn huy động được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả.
Việc huy động vốn của tổ chức, cá nhân nước ngoài, vay hoặc phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý nợ công và quy định của pháp luật có liên quan; Huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật và Điều lệ của Công ty;
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng quy định, việc huy động vốn phục vụ hoạt động kinh doanh đảm bảo đúng nguyên tắc tổng số nợ phải trả không quá ba lần vốn chủ sở hữu của Công ty được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của Công ty tại thời điểm gần nhất với thời điểm huy động vốn.
Trong đó: Vốn chủ sở hữu ghi trên Báo cáo tình hình tài chính trong báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của Công ty được xác định không bao gồm chỉ tiêu “nguồn kinh phí và quỹ khác”;
Nợ phải trả ghi trên Báo cáo tình hình tài chính trong báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của Công ty được xác định không bao gồm các chỉ tiêu: Quỹ khen thưởng, phúc lợi; Quỹ phát triển khoa học và công nghệ; các Quỹ thành lập tại DATC theo Quyết định của cấp có thẩm quyền để thực hiện các nhiệm vụ theo chỉ định, các khoản nợ phải trả phát sinh từ việc phát hành trái phiếu, hối phiếu và công cụ nợ khác có bảo lãnh của Chính phủ để thực hiện các nhiệm vụ theo chỉ định.
Nôi dung này, tại Quy chế cũng nêu rõ, việc huy động vốn phục vụ hoạt động kinh doanh, bao gồm cả các khoản bảo lãnh vay vốn tại các tổ chức tín dụng đối với công ty con quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và đối với doanh nghiệp tái cơ cấu do DATC nắm giữ trên 50% vốn điều lệ quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định số 129/2020/NĐ-CP).
Cùng với các nguyên tắc trên, Bộ Tài chính cũng xác định cụ thể thẩm quyền huy động vốn, đó là: Hội đồng thành viên Công ty thực hiện việc huy động vốn theo quy định tại khoản 3 Điều 23 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp. Hội đồng thành viên phân cấp cho Tổng Giám đốc quyết định phương án huy động vốn thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên.
Trường hợp huy động vốn trên mức quy định tại điểm a khoản này, huy động vốn của tổ chức, cá nhân nước ngoài, Hội đồng thành viên báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt.
5. Nguyên tắc sử dụng vốn
Bộ Tài chính cho phép DATC được quyền chủ động sử dụng vốn của Công ty để phục vụ hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn và phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong đó: Ưu tiên tập trung nguồn lực của DATC để hỗ trợ tái cơ cấu, sắp xếp chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thông qua hoạt động tiếp nhận, mua, xử lý nợ và tài sản; Sử dụng vốn để đầu tư ra ngoài công ty, mua nợ, tài sản cho mục đích kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật và Quy chế này. Tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động mua, bán, xử lý nợ và tài sản theo cơ chế thị trường.
Hội đồng thành viên quy định cụ thể hồ sơ, trình tự xây dựng, thẩm định và thẩm quyền quyết định phương án mua nợ, tài sản áp dụng trong Công ty phù hợp với quy định của pháp luật và Quy chế này;
Bên cạnh đó, DATC được sử dụng vốn để thực hiện các nhiệm vụ theo chỉ định của cấp có thẩm quyền phù hợp với ngành nghề kinh doanh của Công ty; Sử dụng nguồn vốn hoạt động của mình để sửa chữa, nâng cấp tài sản nhằm mục đích gia tăng giá trị và tạo thuận lợi cho việc xử lý tài sản để thu hồi vốn. Hoạt động đầu tư cải tạo, nâng cấp tài sản thuộc về đầu tư xây dựng cơ bản phải chấp hành đầy đủ các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng;
Đặc biệt, DATC được sử dụng vốn để thực hiện gửi tiền tại Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam theo Quy chế do Hội đồng thành viên ban hành phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành, cung cấp tài chính từ nguồn vốn kinh doanh của DATC để phục hồi doanh nghiệp tái cơ cấu theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 129/2020/NĐ-CP và Quy chế kiểm soát rủi ro đối với hoạt động kinh doanh mua, bán nợ, tài sản và hoạt động cung cấp tài chính, bảo lãnh vay vốn đối với các doanh nghiệp tái cơ cấu.
Việc sử dụng vốn để đầu tư, mua sắm tài sản cố định phục vụ hoạt động của Công ty phải đảm bảo: Trang bị phù hợp với nhu cầu hoạt động của Công ty và tuân thủ các quy định của Nhà nước; Tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản cố định; Hạch toán theo dõi tài sản đầu tư, mua sắm theo quy định hiện hành của pháp luật.