1. Một số quy định mới về mua bán nợ của các tổ chức tín dụng
Thông tư số 18/2022-TT-NHNN đã được sửa đổi và bổ sung một số điều, trong đó có quy định về phạm vi điều chỉnh, tuy nhiên không áp dụng cho các hoạt động mua bán nợ xấu giữa các tổ chức tín dụng và Công ty Quản lý Tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), cũng như hoạt động mua bán nợ phát sinh từ hợp đồng vay, cho vay giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Thông tư này quy định rằng bên mua nợ có thể là tổ chức hoặc cá nhân, bao gồm các tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận hoạt động mua nợ, cũng như tổ chức và cá nhân khác, kể cả những tổ chức và cá nhân có hoặc không có trụ sở tại Việt Nam. Giá trị ghi sổ nội bảng của khoản nợ được mua bán bao gồm số dư nợ gốc, số dư nợ lãi của khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác liên quan đến khoản nợ (nếu có) đến thời điểm mua, bán nợ đang được hạch toán nội bảng.
Theo nguyên tắc, TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cần được Ngân hàng Nhà nước xem xét chấp thuận hoạt động mua nợ chỉ khi tỷ lệ nợ xấu của họ dưới 3% theo kỳ phân loại gần nhất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt không phải tuân thủ điều này.
TCTD không cần phải xin phép của Ngân hàng Nhà nước khi bán nợ, nhưng chỉ được mua nợ khi được chấp thuận hoạt động mua nợ tại Giấy phép thành lập và hoạt động của họ, cũng như khi tỷ lệ nợ xấu dưới 3% theo kỳ phân loại gần nhất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Theo Thông tư này, trước khi thực hiện mua, bán nợ, TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ về hoạt động mua, bán nợ. Quy định nội bộ này cần xác định rõ các điều như: phân cấp thẩm quyền giữa khâu thẩm định và quyết định mua, bán nợ; phương thức mua, bán nợ và phương thức thanh toán; quy trình mua, bán nợ; quy trình và phương pháp định giá khoản nợ; cũng như quy trình quản trị rủi ro đối với hoạt động mua, bán nợ.
Theo Thông tư số 18/2022-TT-NHNN, bên bán nợ không được mua lại khoản nợ đã bán, trừ trường hợp TCTD mua lại khoản nợ đã bán cho TCTD được kiểm soát đặc biệt theo quy định tại điểm a, khoản 12 Điều này. TCTD có thể hỗ trợ mua lại khoản nợ đã bán cho TCTD được kiểm soát đặc biệt theo phương án phục hồi tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt đã được phê duyệt theo quy định tại khoản 6 Điều 148 Luật về Các Tổ chức Tín dụng. TCTD cũng có thể nhận chuyển giao bắt buộc mua lại khoản nợ đã bán cho ngân hàng được chuyển giao bắt buộc theo quy định tại điểm c, khoản 12 Điều này.
Theo Thông tư này, TCTD không được phép bán nợ cho công ty con, trừ các trường hợp như: bán nợ cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản theo phương án tái cơ cấu được cấp có thẩm quyền phê duyệt; TCTD là bên nhận chuyển giao bắt buộc bán nợ đủ tiêu chuẩn cho ngân hàng thương mại được chuyển giao bắt buộc theo phương án chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt. Ngoài ra, TCTD cũng không được cấp tín dụng cho khách hàng để mua nợ thuộc sở hữu của chính TCTD.
2. Bổ sung yêu cầu về mua, bán nợ khi bên mua nợ chưa thanh toán đủ số tiền mua nợ
Ngày 26/12/2022, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 18/2022/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 09/2015/TT-NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo đó, việc mua, bán nợ trong trường hợp bên mua chưa thanh toán đủ số tiền mua nợ như sau:
Trường hợp bên mua nợ và bên bán nợ có thỏa thuận về việc bên mua nợ được trả tiền mua nợ (một phần hoặc toàn bộ số tiền mua nợ) sau thời điểm bên mua nợ đã nhận chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ từ bên bán nợ thì các bên phải đảm bảo các yêu cầu sau:
(1) Thời hạn hoàn thành thanh toán số tiền mua, bán nợ của bên mua nợ cho bên bán nợ tối đa là 60 ngày, tính từ ngày hợp đồng mua, bán nợ có hiệu lực.
(2) Trừ trường hợp quy định tại (4) mục này, số tiền mà bên mua nợ chưa thanh toán đủ cho bên bán nợ theo hợp đồng mua, bán nợ phải được bảo đảm 100% khả năng thanh toán bằng các loại tài sản có tính thanh khoản cao, bao gồm:
- Tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành;
- Vàng miếng theo quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh vàng; c) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;
- Trái phiếu doanh nghiệp được xếp hạng mức AA- trở lên (theo Standard & Poor’s hoặc Fitch Ratings) hoặc từ mức Aa3 trở lên (theo Moody’s) và được niêm yết trên thị trường chứng khoán;
- Cổ phiếu được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (trừ: các cổ phiếu bị cảnh cáo, kiểm soát, bị tạm ngừng, đình chỉ;
Hoặc hạn chế giao dịch theo quy định của pháp luật và quy chế của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam tại thời điểm ký hợp đồng bảo đảm và các cổ phiếu có khối lượng giao dịch dưới 300.000 cổ phiếu/ngày, tính trong 10 ngày giao dịch liền kề trước ngày ký hợp đồng bảo đảm).
(3) Giá trị của các tài sản dùng để bảo đảm cho số tiền mua nợ được trả sau quy định tại (2) mục này được xác định theo nguyên tắc xác định giá trị tài sản bảo đảm để tính khấu trừ khi trích lập dự phòng rủi ro tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm.
(4) Trường hợp tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, ngân hàng thương mại được chuyển giao bắt buộc mua nợ theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 12 Điều 5 Thông tư 18/2022/TT-NHNN và sử dụng khoản nợ được mua này để:
Làm tài sản bảo đảm cho khoản vay đặc biệt tại Ngân hàng Nhà nước, việc bảo đảm cho số tiền mua nợ mà bên mua nợ được trả sau thời điểm bên mua nợ đã nhận chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ được mua bán từ bên bán nợ (nếu có) do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Bổ sung nguyên tắc quản lý theo trường hợp bán một phần khoản nợ hoặc bán khoản nợ cho nhiều bên mua nợ
Theo quy định tại Thông tư 18/2022/TT-NHNN cũng bổ sung nguyên tắc về quản lý theo trường hợp bán một phần khoản nợ hoặc bán khoản nợ cho nhiều bên mua nợ như sau:
- Trong trường hợp bên bán nợ vẫn giữ lại một phần của khoản nợ đã được mua, bán, bên bán nợ phải tiếp tục chịu trách nhiệm làm đầu mối trong việc quản lý hồ sơ, tài liệu, các biện pháp bảo đảm và các vấn đề khác liên quan đến phần nợ đó.
Phần còn lại của khoản nợ mà chưa được bán, bên bán nợ sẽ tiếp tục thực hiện quản lý, theo dõi, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bên bán nợ không giữ lại bất kỳ phần nào của khoản nợ đã bán và đã nhận đủ số tiền mua nợ, việc chuyển giao hồ sơ, tài liệu, các biện pháp bảo đảm và các vấn đề liên quan đến khoản nợ đó cho các bên mua nợ được thực hiện theo thỏa thuận của các bên mua nợ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Quyền, nghĩa vụ của các bên và việc xử lý các vấn đề phát sinh trong trường hợp bên bán nợ làm đầu mối trong việc quản lý hồ sơ, tài liệu, các biện pháp bảo đảm và các vấn đề khác liên quan đến khoản nợ được quy định tại khoản 1 Điều 15a Thông tư 18/2022/TT-NHNN sẽ được thực hiện theo thỏa thuận của các bên và tuân thủ quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp bán một phần hoặc toàn bộ khoản nợ cho nhiều bên mua nợ, việc xử lý tài chính và các vấn đề liên quan sẽ được thực hiện tuân theo quy định về mua, bán nợ cũng như các quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 15a của Thông tư 18/2022/TT-NHNN.
Xem thêm: Mua bán nợ là gì? Điều kiện để doanh nghiệp hoạt động mua bán nợ?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Bổ sung yêu cầu mua, bán nợ khi bên mua nợ chưa thanh toán đủ số tiền mua nợ mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!