1. Nhận hối lộ là gi?
Nhận hối lộ được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận lợi ích vật chất do đã làm hoặc sẽ làm hoặc không làm một việc nào đó có lợi cho bên đưa theo yêu cầu của bên đưa hối lộ. Chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người có chức vụ quyền hạn thực hiện hành vi nhận hối lộ của mình. Nếu không có chức vụ, quyền hạn thì sẽ rất khó khăn trong việc nhận các lợi ích để giải quyết theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Trên thực tế, nhận hối lộ là một hành vi trái pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự 2015. Đây là một trong các hành vi tham nhũng, thể hiện sự coi thường pháp luật, thể hiện sự suy thoái đạo đức của những người được nhà nước trao một số quyền nhất định để quản lý và bảo đảm trật tự xã hội, bảo đảm an ninh chính trị. Tuy nhiên vì lợi ích vật chất, các cá nhân này đã bất chất quy định của pháp luật, lợi dụng quyền lực được trao để thực hiện những hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới công bằng xã hội, trong trường hợp còn gây thất thoát cho nhà nước hàng tỷ đồng, làm cản bước tiến của đất nước, làm mất niềm tin vào công tác nhân sự, công tác quản lý của Đảng và Nhà nước. Do đó, luật hình sự đã có quy định liên quan đến tội hối lộ và các hình phạt dành cho từng mức độ vi phạm.
Nhận hối lộ là một hành vi tham nhũng cần phải được xử lý nghiêm minh, nhằm đảm bảo uy tín của Đảng, của Nhà nước trước nhân dân, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật, khi hiện nay nước ta đang hưỡng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Việc xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng nói chung và hành vi nhận hối lộ nói riêng còn đảm bảo tính công bằng xã hội, tránh những hành vi gây nhũng nhiễu, tiêu cực gây phiền toái cho người dân và ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước.
2. Quy định của pháp luật về tội nhận hối lộ
Nhận hối lộ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 354 Bộ luật hình sự năm 2015. Cụ thể tại Điều 354 Bộ luật hình sự 2015 quy định về dấu hiệu của tội nhận hối lộ và các khung hình phạt đối với mức độ của hành vi nhận hối lộ. Theo quy định tại Điều 354 Bộ luật hình sự 2015, các nội dung cơ bản về yếu tố định tội bao gồm:
- Về chủ thể: Chủ thể của tội nhận hối lộ là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức Nhà nước, cụ thể khoản 1 Điều 352 Bộ luật hình sự 2015 quy định " Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức Nhà nước mà nhận hối lộ thì bị xử lý theo quy định tại Điều này". Như vậy, chủ thể của tội nhận hối lộ không chỉ là người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan Nhà nước như cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp,..... mà còn có thể bao gồm cả người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức ngoài Nhà nước. Quy định này đac phản ánh đúng được yêu cầu thực tiễn và tương thích với Công ước của liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng. Trên thực tế, không chỉ có người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nước mới có hành vi nhận hối lộ, mà cả những người có chức vụ, quyền hạn trong các tổ chức ngoài nhà nước cũng thực hiện các hành vi như nhận hối lộ, trong khi đó, mức độ gây hậu quả trên thực tế của những hành vi này cũng rất lớn, do đó, pháp luật quy định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân này là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với Công ước quốc tế về chống tham nhũng.
- Về mặt khách quan: Hành vi trong tội nhận hối lộ theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015 là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận tiền của hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để làm, không làm một việc theo yêu cầu hoặc vì lợi ích của người đưa hối lộ. Hành vi nhận hối lộ có thể được thực hiện trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác nhau. Trường hợp sẽ nhận là trường hợp mà người có chức vụ, quyền hạn chưa nhận hối lộ nhưng có đủ căn cứ đeer cho rằng đã có sự thỏa thuận về việc nhận hối lộ sau khi thực hiện hoặc không thực hiện một việc cụ thể theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Trong trường hợp, người có chức vụ, quyền hạn có nhận quà biếu sau khi đã làm đúng chức trách của mình không được xếp vào hành vi nhận hối lộ, bởi giữa người có chức vụ, quyền hạn và người đưa quà biếu không có bất kỳ một thỏa thuận nào về việc tặng quà biếu. Quà biết trong trường hợp này được coi là sự thể hiện của lòng biết ơn, điều này là phù hợp với truyền thống và phong tục tập quán của người Việt Nam ta.
- Về mặt chủ quan: Lỗi trong tội nhận hối lộ là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội thấy trước được họ là người có chức vụ, quyền hạn và việc nhận tiền của hoặc có mong muốn nhận tiền của là do lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận tiền hối lộ trái với quy định của pháp luật, trái với quy định của cơ quan, tổ chức.
- Về khách thể: Tội nhận hối lộ xâm phạm tới các hoạt động đúng đắn, bình thường, tính chuẩn mực trong công tác của cơ quan, tổ chức do nhà nước quy định. Đối tượng của tội nhận hối lộ phải là tiền của, những giấy tờ có giá trị,....
- Về hình phạt: Hình phạt đối với tội nhận hối lộ được chia thành nhiều khung khác nhau tùy vào mức độ phạm tội như: phạt từ từ 02 đến 07 năm tù; từ 07 đến 15 năm tù; phạt tù 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; ngoài ra còn bị áp dụng các hình phát như cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
3. Các nguyên tắc xử lý đối với tội nhận hối lộ theo quy định của pháp luật
Tội nhận hối lộ là một trong những tội phạn tham nhũng, về nguyên tắc xử lý, theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP quy định về nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ quyền hạn như sau:
- Việc xử lý tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ phảm đảm bảo nghiêm khắc và tuân thủ triệt để các nguyên tắc của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự. Tội phạm liên quan đến tham nhũng là những tội phạm cần phải được xử lý nghiêm minh, để đảm bảo trật tự, công bằng xã hội, việc xử lý loại tội này cần được thực hiện theo các nguyên tắc của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, do đó, mọi hoạt động phải được thực hiện trên cơ sở pháp luật, tránh sự tùy tiện, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan.
- Trong quá trình tố tụng người phạm tội tham ô tài sản, nhận hối lộ đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì không áp dụng mức cao nhất của khung hình phạt mà người phạm tội bị truy tố, xét xử. Như vậy, đối với các trường hợp có thái độ hợp tác, và có thái độ khắc phục hậu quả, chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô thì hoặc có các hành vi khác giúp đỡ, hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình điều tra sẽ không phải chịu mức cao nhất của khung hình phạt mà người đó bị truy tố, xét xử.
- Xem xét áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt miễn hình phạt theo Điều 59 của Bộ luật hình sự đối với trường hợp người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự hoặc người phạm tội lần đầu và đã giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 3 Điểu 5 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP.
Trên đây là một số vấn đề liên quan đến các nguyên tắc xử lý tội nhận hối lộ theo quy định của pháp luật hiện nay. Để hiểu rõ hơn về vấn đề liên quan đến nội dung này, tham khảo bài viết: Tội đưa hối lộ là gì theo quy địnhc của Bộ luật hình sự?
Mọi vấn đề thắc mắc liên hệ tổng đài 19006162 hoặc email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp chi tiết.
Trân trọng