1. Di chúc viết tay, đánh máy thì có giá trị pháp lý không?

Thưa luật sư, xin hỏi: Một di chúc được xác lập như thế nào thì được coi là hợp pháp? Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015, quy định về tính hợp pháp của di chúc đó và người làm chứng di chúc và di chúc có người làm chứng là:

Điều 652. Di chúc hợp pháp

“1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.”

Điều 632. Người làm chứng cho việc lập di chúc

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Điều 633. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này.

Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.

Do bà bạn không biết chữ nên để di chúc hợp pháp thì bà của bạn phải nhờ người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực, tuy nhiên yêu cầu người làm chứng phải là người đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự, không liên quan đến việc hưởng di sản, không có quyền và nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc.Trường hợp bà bạn nhờ người khác viết di chúc thì có hai trường hợp như sau:

Trường hợp thứ nhất: Như bạn trình bày, bà bạn không biết chữ nên đọc cho mẹ bạn viết và có nhờ cán bộ xóm đến làm chứng, nội dung di chúc là để lại di sản cho bố mẹ bạn. Di chúc của bà bạn sau đó đã được công chứng, chứng thực đầy đủ. Như vậy theo quy định tại khoản 3, Điều 630 Bộ Luật dân sự 2015 về di chúc hợp pháp: “Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực” . Trường hợp này nếu như bà bạn đọc cho mẹ bạn viết và sau đó người làm chứng có ghi chép lại, lập thành văn bản vì mẹ bạn không được coi là người làm chứng và di chúc được công chứng đầy đủ thì di chúc của bà bạn được coi là hợp pháp vì vậy khi tiến hành chia thừa kế sẽ thực hiện theo nội dung của di chúc. Việc can thiệp và mời luật sư của dì bạn để đòi 100m2 đất là không hợp pháp và sẽ không được pháp luật thừa nhận.

Trường hợp thứ hai di chúc của bà bạn không được người làm chứng lập lại thành văn bản vì theo Điều 656 Bộ Luật dân sự 2005 di chúc bằng văn bản có người làm chứng thì không yêu cầu cụ thể người viết di chúc,như vậy, việc bà bạn đọc cho mẹ bạn viết di chúc là hoàn toàn được chấp nhận, tuy nhiên chỉ có 1 người làm chứng, không đáp ứng được điều kiện có ít nhất 2 người làm chứng. Mẹ và bố của bạn không được làm chứng vì là người được nhận di sản có nêu trong di chúc, do đó bản di chúc đó là không hợp pháp.

Do bản di chúc của bà bạn là không hợp pháp nên phần di sản bà để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật theo quy định tại Điều 650 Bộ Luật dân sự 2015.

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;...”

Đồng thời mẹ và hai dì của bạn sẽ được hưởng thừa kế với phần di sản như nhau do cùng thuộc hang thừa kế thứ nhất theo Điều 651 Bộ Luật dân sự 2015.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.....

Trân trọng./.

2. Nếu không để lại di chúc thì di sản thừa kế chia như thế nào?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em tên là Nguyễn Chúc Ng, hiện đang du học và làm việc tại Úc. Em có một số thắc mắc về luật thừa kế ở Việt Nam. Bố em mất, để lại ba căn nhà cho mẹ em, một căn thì đứng tên mẹ em, hai căn còn lại thì đứng dưới tên bố em, mặc dù bố em đã mất cách đây 6 năm, nhưng mẹ em vẫn chưa chuyển tên hai căn nhà đó.
Bố mẹ em có tất cả 3 người con, một trai và hai gái. Anh trai em có vợ nhưng đã li dị vợ và có một con đang sống ở Việt nam với mẹ em. Chị gái em có chồng và có con, có quốc tịch Úc và đang sống ở Úc. Em cũng đã lấy chồng và đang du học ở Úc. Em và chị em mặc dù sống ở Úc nhưng vẫn còn quốc tịch Việt nam, sổ hộ khẩu nhà vẫn có tên hai chị em chúng em. Nếu sau này mẹ em mất, không để lại di chúc, thì ba căn nhà (tài sản của bố mẹ em để lại) sẽ được chia như thế nào? Nếu anh trai của em cứ khăng khăng giành hết số tài sản đó thì anh ấy có vi phạm luật pháp không? Nếu trường hợp đó xảy ra thì em phải làm sao?
Em rất cần sự tư vấn của bên phía luật sư, em cảm ơn.

Nếu không để lại di chúc thì di sản thừa kế chia như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật về di chúc và chia di sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Những người được hưởng di sản thừa kế khi người chết không để lại di chúc:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bố bạn đứng tên hai căn nhà, mẹ bạn đứng tên một căn nhà tuy nhiên không phải ai đứng tên trên giấy chứng nhận cũng là người sử dụng, sở hữu do vậy, bạn cần phải xác nhận đây là tài sản chung hay tài sản riêng của bố mẹ bạn thì việc chia thừa kế mới chính xác được.

Nếu mẹ bạn mất không để lại di chúc, vì vậy phần di sản do mẹ bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015 và người thừa kế ở đây là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm: những người con của bố mẹ bạn, ông bà ngoại của bạn (nếu còn).

Như vậy, ba anh em bạn vẫn được hưởng phần di sản thừa kế bằng nhau vì đều cùng một hàng thừa kế (Khoản 2 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015).

2. Nếu anh trai của em cứ khăng khăng giành hết số tài sản đó thì anh ấy có vi phạm luật pháp không? Nếu trường hợp đó xảy ra thì em phải làm sao?

Theo như phân tích ở trên thì nếu anh trai của bạn cứ khăng khăng giành hết số tài sản đó thì anh ấy đã vi phạm luật pháp về thừa kế. Nếu trường hợp tranh chấp xảy ra bạn có quyền gửi đơn khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền để được bảo vệ quyền và lợi ích của mình.

Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Như vậy, sau thời hạn 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết), người thừa kế không còn quyền khởi kiện thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác; và sau thời hạn là 3 năm, cá nhân, tổ chức không còn quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại.

Tuy nhiên, tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn như sau:

- Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

+ Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

+ Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

Như vậy, đối chiếu với quy định nêu trên thì nếu trong trường hợp anh em bạn có tranh chấp thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết khi đó Tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về chia di sản thừa kế hoặc chia tài sản chung để giải quyết.

3. Giải quyết thế nào khi có người không chấp nhận di chúc?

Thưa Luật sư, năm 2018, các anh em ruột của ba tôi và ông nội tôi đã thỏa thuận ai phụng dưỡng ông bà nội tôi sẽ được hưởng mảnh đất của ông bà. Người nhận nhiệm vụ này là ba tôi, ông nội tôi cũng đã viết di chúc để lại mãnh đất cho ba tôi và có sự đồng ý của anh em của ba tôi.

Năm 2019, ông bà nội mất, gia đình tôi làm giấy tờ nhận thừa kế, xin cấp sổ đỏ cho mảnh đất của ông nội tôi. Người em thứ 5 của ba tôi không đồng ý và luôn chống đối, không hợp tác để hoàn tất thủ tục (địa chính xã nói là phải lấy chữ kí của các anh em ba tôi mới làm được) mặc dù đã có di chúc, địa chính đã vào đo đạc (giấy tờ đang lưu tại ủy ban xã). Trong suốt năm từ 2019 đến nay gia đình ba mẹ tôi vẫn canh tác, trồng trọt cây hàng năm, sinh sống ổn định trên mảnh đất mà ông nội tôi để lại.

Xin hỏi luật sư:

1.Pháp luật quy định về quyền thừa kế đất ra sao?

2. Người em thứ 5 của ba tôi sẽ bị phạt như thế nào khi không cho ba tôi làm sổ đỏ?

3. Địa chính xã có vi phạm luật trong trường hợp này không?

>> Luật sư tư vấn dân sự về thừa kế trực tuyến , Gọi:1900.6162

Trả lời:

1. Quyền thừa kế ?

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 có hai hình thức thừa kế: thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Thực tế có tồn tại một khối tài sản được dùng để chia cho người được hưởng thừa kế theo di chúc và chia cho người thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp đã có di chúc cho hưởng thừa kế, người không có tên hưởng di sản chỉ được hưởng khi thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.....

Theo quy định này và những thông tin bạn cung cấp, thấy rằng người con thứ 5 của ông bà nội bạn không có tên trong di chúc hưởng di sản là mảnh đất vì vậy người này chỉ được hưởng khi rơi vào một trong hai trường hợp là: chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động. Điều đó có nghĩa nếu không rơi vào trường hợp này sẽ không được hưởng di sản thừa kế.

2. Người em thứ 5 của ba tôi sẽ bị phạt như thế nào khi không cho ba tôi làm sổ đỏ?

Hiện nay không có quy định nào quy định về vấn đề này, không thể coi đây là hành vi gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác theo Điều 11-Nghị định 102/2014/NĐ-CP. Cho nên không có cơ sở để phạt người em thứ 5 của ba bạn.

3. Địa chính xã có vi phạm luật trong trường hợp này không ?

Theo quy định của Luật đất đai năm 2013, một trong những điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất đó không có tranh chấp. Vì vậy, khi người em thứ 5 của ba bạn không đồng ý với di chúc, tức là đã có tranh chấp xảy ra nên địa chính xã không làm giải quyết cho gia đình bạn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

4. Các con có được cùng tham gia soạn di chúc thừa kế không?

Thưa luật sư! Bố chồng tôi có 6 người con 3 người con trai và 3 người con gái, bố có mảnh đất và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố.
Vậy khi bố chồng tôi lập bản di chúc thì các con đẻ của bố tôi có cùng được tham gia không? Nếu các con không được tham gia đầy đủ thì bản di chúc đó có đảm bảo đúng luật không ạ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp được quy định tại Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo quy định trên thì khi bố chồng bạn lập di chúc các con không có quyền được tham gia, chỉ cần bố chồng bạn lập di chúc vào thời điểm còn bố bạn còn minh mẫn sáng suốt không bị lừa dối đe dọa thì bản di chúc vẫn có hiệu lực. Trừ trường hợp bố bạn đã mất và lúc này các con có thỏa thuận trong biên bản phân chia thừa kế mà thôi.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục lập di chúc hợp pháp ? và Thủ tục lập di chúc

5. Phân chia thừa kế theo di chúc của bố để lại?

Thưa luật sư, xin hỏi: Phân chia thừa kế theo di chúc của bố để lại. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện gì? Luật sư cho em hỏi chút mong luật sư tư vấn cho e ạ. Bố e trước khi mất có để cho 2 anh em chúng tôi 1 thửa đất và thửa đất đó do bố e đứng quyền sử dụng đất. Giờ bố tôi mất và có di chúc để lại là cho 2 anh em chúng tôi mỗi anh em 1 nửa. Giờ anh em chúng tôi muốn tách bìa thửa đất đó làm?
2. Luật sư cho tôi hỏi là tách đất như vậy thì anh em chúng tôi có phải chịu thuế gì không như là thuế trước bạ hay thuế thu nhập...?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi ạ!

Luật sư tư vấn:

Trước tiên Di chúc của bố anh cần phải tuân thủ quy định tại Điều 630, Bộ luật dân sự năm 2015 thì mới được xem là di chúc hợp pháp:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Ngoài ra cần lưu ý về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định tại Điều 644, Bộ luật dân sự năm 2015

Khi xác định được những người thừa kế thì cần họp mặt những người thừa kế và thỏa thuận về vấn đề:

- Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;

- Cách thức phân chia di sản.

Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản. Sau khi thỏa thuận bằng văn bản thì đưa văn bản này ra công chứng. Sau đó, mang văn bản này kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến văn phòng quản lý đất đai cấp huyện để làm thủ tục tách thửa đất và sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lưu ý, diện tích đất khi tách đất phải đảm bảo diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Khi thực hiện để làm thủ tục tách thửa đất và sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh cần chịu các loại thuế sau:

1. Thuế thu nhập cá nhân

Căn cứ Khoản 4, Điều 4, Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 như sau: “ Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.” Theo đó, anh và anh trai anh không phải chịu thuế thu nhập cá nhân.

2. Lệ phí trước bạ:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 140/2016/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về lệ phí trước bạ, cụ thể như sau:

Tiền nộp đất = (Diện tích đất) x (Giá đất) x (Lệ phí)

Trong đó:

- Diện tích đất tính bằng m2

- Giá đất theo bảng giá của Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có đất

.- Lệ phí 0,5%

3. Các lệ phí khác:

- Lệ phí địa chính

- Lệ phí thẩm định

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Luật Minh Khuê biên tập