Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật Hình sự 2015;

- Luật phòng, chống mua bán người 2011

1. Buôn người là gì?

Buôn người là việc mua bán con người với mục đích lao động cưỡng bức, nô lệ tình dục, hoặc bóc lột tình dục đem lại lợi ích cho kể buôn người hoặc những người khác. Điều này có thể bao gồm việc kiếm cô dâu trong bối cảnh hôn nhân bị ép buộc, hoặc dùng để lấy nội tạng hoặc mô. Nạn nhân buôn người có thể xảy ra trong một quốc gia hoặc đa quốc gia.

2. Quy định của pháp luật Việt Nam về hành vi mua bán người

Để phòng ngừa và đấu tranh một cách đầy đủ, toàn diện và hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống mua bán người, Điều 3 Luật Phòng, chống mua bán người đã xác định một loạt các hành vi cần được phòng, chống. Những hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 3 này có thể phân định thành 03 nhóm các hành vi với những hình thức vi phạm và mức độ cần được phòng, chống khác nhau.

- Nhóm các hành vi đầu tiên và cũng được xem là nhóm hành vi cốt lõi mà Luật này cần phòng, chống đó là hành mua bán người và các hành vi liên quan trực tiếp đến việc mua bán người. Nhóm hành vi này bao gồm 05 hành vi cụ thể được quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, và 5 Điều 3 của Luật, bao gồm.

(1) Mua bán người theo quy định tại Điều 119 và Điều 120 Bộ luật Hình sự;

(2) Chuyển giao, tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

(3) Tuyển mộ, vận chuyển, chưa chấp người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận trên cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác hoặc để thực hiện hành vi (1) hoặc (2) kể trên;

(4) Cưỡng bức người khác thực hiện các hành vi (1) hoặc (2) hoặc (3) kể trên;

(5) Môi giới để người khác thực hiện hành vi (1) hoặc (2) hoặc (3) kể trên.

Đây là những hành vi vi phạm được coi là phạm tội mua bán người đơn lẻ đã được quy định tại Điều 119 và Điều 120 Bộ luật Hình sự, hoặc là những hành vi vi phạm mang tính đồng phạm đơn giản lẫn những hành vi mua bán người có tổ chức, mang tính chuyên nghiệp xảy ra trong nước hoặc xuyên quốc gia, hoặc là hành vi vi phạm một tội khác theo quy định của Bộ luật Hình sự nhưng mối liên hệ chặt chẽ với hành vi mua, bán người. Vì thế, những hành vi này được xem là những hành vi trọng tâm nhất, nòng cốt nhất cần được phòng, chống trong Luật này.

- Nhóm các hành vi thứ hai là các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người được quy định từ khoản 6 đến khoản 11 Điều 3 như Luật, như: "trả thù, đe dọa trả thù nạn nhân, người tố giác, người tố cáo, người làm chứng, người thân thích của họ hoặc người ngăn chặn hành vi quy định tại Điều này", "lợi dụng hoạt động, phòng, chống mua bán người để trục lợi, thực hiện hành vi trái pháp luật", "cản trở việc tố giác, tố cáo, khai báo và xử lý hành vi quy định tại Điều này", "kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân", "giả mạo là nạn nhân, Tiết lộ thông tin về nạn nhân khi chưa có sự đồng ý của họ hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân"... Việc quy định những hành vi bị nghiêm cấm này có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để xử lý người vi phạm. Chính vì vậy, mà những hành vi bị cấm cần mang tính khái quát cao và những bao quát toàn bộ lĩnh vực phòng, chống mua bán người nhằm bảo đảm công tác phòng, chống mua bán người được thực hiện một cách thuận lợi, có hiệu quả và xử lý nghiêm đối với những người vi phạm.

- Nhóm các hành vi thứ ba là những hành vi khác vi phạm các quy định của Luật này. Quy định này nhằm phòng, chống tất cả các hành vi khác vi phạm các quy định của Luật này những không thuộc một trong hai nhớm các hành vi vi phạm kể trên.

3. Về các chế độ hỗ trợ nạn nhân của tội phạm mua bán người

Điều 32 Luật phòng, chống mua bán người quy định 06 chế độ hỗ trợ nạn nhân, bao gồm:

1. Hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại (bố trí chỗ ở tạm thời, hỗ trợ về ăn, mặc và các vật dụng cá nhân thiết yếu khác, hỗ trợ chi phí đi lại);

2. Hỗ trợ y tế;

3. Hỗ trợ tâm lý;

4. Trợ giúp pháp lý;

5. Hỗ trợ học văn hóa, học nghề;

6. Trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn.

Cụ thể:

- Hỗ trợ nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại: Theo Điều 33 Luật phòng, chống mau bán người thì các nhu cầu thiết yếu bao gồm: Chỗ ở tạm thời, ăn, mặc và các vật dụng cá nhân thiết yếu khác. Việc hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu được thực hiện trong trường hợp cần thiết trên cơ sở cân nhắc đến điều kiện thực tế và các đặc điểm về lứa tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe của nạn nhân. Điều này cũng quy định trong trường hợp nạn nhân có nguyện vọng trở về nơi cư trú nhưng không có khả năng chi trả tiền tàu xe và tiền ăn trong thời gian đi đường thì được hỗ trợ các chi phí này.

- Hỗ trợ y tế: Điều 34 Luật Phòng, chống mua bán người quy định trong thời gian lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân, nếu nạn nhân cần được chăm sóc y tế để phục hồi sức khỏe thì được xem xét hỗ trợ chi phí khám, chữa bệnh.

- Hỗ trợ tâm lý: Điều 35 Luật phòng, chống mua bán người quy định việc hỗ trợ tâm lý cho nạn nhân trong thời gian lưu trú tại cơ sở bảo trợ hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Việc hỗ trợ tâm lý sẽ giúp xoa dịu những nỗi đau về tinh thần mà nạn nhân pahir gánh chịu, giúp họ xóa bỏ tâm lý mặc cảm, tự ti, yên tâm hòa nhập trở lại với gia đình và cộng đồng.

- Trợ giúp pháp lý: Điều 36 Luật phòng, chống mua bán người quy định về chế độ trợ giúp pháp lý đối với nạn nhân bị mua bán. Theo đó, nạn nhân được tư vấn pháp luật để phòng ngừa bị mua bán trở lại và được trợ giúp pháp lý để làm thủ tục đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, nhận chế độ hỗ trợ, đòi bồi thường thiệt hại, tham gia tố tụng và các thủ tục pháp lý khác có liên quan đến vụ việc mua bán người. Trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý được thực hiện theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý. Với quy định này thì Luật Phòng, chống mua bán người đã bổ sung thêm một số đối tượng mới được hưởng trợ giúp pháp lý so với các đối tượng được quy định tại Điều 10 của Luật Trợ giúp pháp lý.

- Hỗ trợ học văn hóa, học nghề: Để giúp nạn nhân có điều kiện theo học tiếp, Điều 37 Luật Phòng, chống mua bán người quy định nạn nhân là người chưa thành niên nếu tiếp tục đi học sẽ được hỗ trợ tiền học phí, tiền mua sách giáo khoa và đồ dùng học tập cho năm học đầu tiên. Còn đối với nạn nhân là người đã đủ tuổi lao động, khi trở về địa phương sẽ được xem xét hỗ trợ đào tạo nghề gắn liền với cơ hội tìm kiếm việc làm cụ thể để có thể tự kiếm sông nuôi bản thân và gia đình. Đây là điều kiện cần thiết để giúp nạn nhân có thể hòa nhận cộng đồng một cách bền vững, tránh khỏi nguy cơ bị bán trở lại. Tuy nhiên, cả hai hình thức hỗ trợ nêu trên đều chỉ dành cho nạn nhân thuộc diện hộ nghèo.

- Trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn: Theo quy định tại Điều 38 Luật Phòng, chống mua bán người thì nạn nhân thuộc hộ nghèo được hỗ trợ một lần tiền trợ cấp khó khăn ban đầu để có điều kiện ổn định cuộc sống khi trở về địa phương. Trong trường hợp nạn nhân có nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh thì được xem xét tại điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật.

4. Các cơ quan, tổ chức thực hiện hỗ trợ nạn nhân

Điều 39 Luật phòng, chống mua bán người đã quy định cụ thể các cơ quan, tổ chức thực hiện việc hỗ trợ nạn nhân. Theo đó, có 05 nhóm cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện các chế độ này. Đó là:

(1) Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiếp nhận nạn nhân, cơ quan Công an, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển đã giải cứu nạn nhân thực hiện hỗ trợ nhu cầu cần thiết cho nạn nhân;

(2) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện hỗ trợ chi phí đi lại cho nạn nhân trong trường hợp họ tự trở về nơi cư trú;

(3) Cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ y tế cho nạn nhân.

5. Những nguyên tắc cơ bản trong phòng, chống mua bán người

Điều 4 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 đã quy định một số nguyên tắc cơ bản phòng, chống mau bán người với các nội dung như sau:

Nguyên tăc thứ nhất Là thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người: Thực tiễn đấu tranh phòng, chống mua bán người cho thấy, việc phát hiện, truy bắt, xử lý kẻ mua bán người chỉ giải quyết được phần ngọn chứ chưa giải quyết được cái gốc của vấn đề - nguyên nhân, điều kiện của tình trạng mua bán người. Vì vậy, cuộc đấu tranh này chỉ thực sự có hiệu quả khi chúng ta làm tốt công tác phòng ngừa (cả phòng ngừa chung lẫn phòng ngừa riêng) với sự tham gia của toàn thể xã hội, từ những cá nhân, gia đình tới các cơ quan, tổ chức để góp phần giải quyết cơ bản căn nguyên của hoạt động mua bán người. Tuy nhiên, chỉ thực hiện tốt công tác phát hiện, xử lý các hành vi mua bán người cũng như những hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người thì việc đấu tranh phòng, chống mua bán người không có hiệu quả. Do đó, sự kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa và đấu tranh xử lý những hành vi mua bán người và những hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực này phải được xem là nguyên tắc đầu tiên, quan trọng nhất trong đấu tranh phòng, chống mua bán người.

Nguyên tắc thứ hai là giải cứu, bảo vệ, tiếp nhận, xác minh, hỗ trợ nạn  nhân kịp thời, chính xác. Tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp và không bị kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân: Nguyên tắc này được xuất phát từ những hậu quả mà hoạt động mua bán người để lại cho các nạn nhân. Thực tiễn chứng minh, hoạt động mua bán người đã gây ra những đau khổ, dằn vặt cả về thể xác lẫn tinh thần. Họ không chỉ cần chỗ ở tạm thời, cần sự giúp đỡ về tài chính, học nghề, tìm kiếm việc làm... mà họ còn cần được từng cá nhân cũng như toàn xã hội tôn trọng họ, đảm bảo cho họ được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp như mọi người dân khác mà không có bất kỳ sự phân biệt, đối xử nào. Việc quy định những nội dung trên thành một nguyên tắc sẽ phần nào giúp nạ nhân giảm được những đau khổ về tinh thần và thể xác mà họ đã và đang gánh chịu.

Nguyên tắc thứ ba là Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống mau bán người: để đấu tranh phòng, chống mua bán người một cách có hiệu quả thì trước hết cần phải dựa vào ý thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình đối với chính bản thân mình cũng như đối với sự an toàn của cả cộng đồng, xã hội. Vai trò thứ hai không kém phần quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống mua bán người đó là trách nhiệm của cộng đồng, các cơ quan, tổ chức. Rõ ràng, hiệu quả của hoạt đông phòng, chống mua bán người không chỉ phụ thuộc vào những nỗ lực của Nhà nước mà còn phụ thuộc đáng kể vào sự tham gia tích cực của toàn xã hội. Do vậy, việc phát huy vai trò, trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức, cũng như của cả cộng đồng xã hội tham gia phòng, chống mua bán người cần được xem là một nguyên tắc chủ đạo để đạt được hiệu quả cao trong công cuộc đấu tranh phòng, chống  mua bán người.

Nguyên tăc thứ tư là mọi hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người đều phải được ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời và chính xác: đây là nguyên tắc nhằm bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cũng như đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Với những hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì việc điều tra, xử lý được tiến hành theo Bộ Luật Hình sự và Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Với những hành vi vi phạm chưa tới mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể áp dụng các biện pháp xử lý khác như xử lý hành chính, xử lý kỷ luật,... Đây được xem là nguyên tắc bao trùm, xuyên suốt trong qua trình đấu tranh phòng, chống mua bán người.

Nguyên tắc thứ năm là tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống mua bán người phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và pháp luật, tập quán quốc tế, mua bán người chỉ thực sự có hiệu quả khi có sự nỗ lực chung của cả cộng đồng quốc tế và của từng quốc gia. Do vậy, việc tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống mua bán người là hết sức quan trọng, cần được đặt ra như là một trong những nguyên tắc định hướng, chỉ đạo hoạt động phòng, chống mua bán người ở nước ta.