1. Khái niệm về công ty

Chữ “công ty” có hai nghĩa:

- Trước hêt đó là một hợp đồng theo đó hai hay nhiều người thoả thuận để chung một số tài sản nhằm mục đích chia lời hay hường các lợi ích do tài sản này đem lại, đó là văn kiện thành lập công ty.

- Mặt khác công ty là pháp nhân khai thác số tài sản chung, được công nhận có năng lực pháp lý để hành động nhân danh và vĩ quyền lợi của tập thể.

Trong ngôn ngữ thương mại, chữ “Công ty ” chủ yếu chỉ định pháp nhân trong khi văn bản thành lập công ty được gọi là hợp đồng thành lập công ty hoặc “Bản điều lệ”.

Công ty có các hình thức và tầm cỡ khác nhau, có thể gồm hai thành viên như trong Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc hàng ngàn cổ đông như trong Công ty cổ phần. Tầm quan trọng của công ty trong nền kinh tế to lớn hơn nhiều so với các Doanh nghiệp tư nhân mặc dù về số lượng các doanh nghiệp này có thể nhiều hơn.

2. Lợi ích thành lập Công ty

Quyết định thành lập công ty có thể có nhiều lý do. Nếu việc thành lập công ty là giải pháp để có thêm nguồn tài chính thì đối với các công ty cỡ nhỏ lợi ích này nhiều khi cũng không bù đắp được các bất lợi như: bộ máy quản lý trở nên cồng kềnh hơn, chi phí thêm cho việc thành lập công ty và khả năng mất quyền kiểm soát công việc kinh doanh.

- Lợi ích tài chính: Khả năng tài chính của một người có thể đủ để thành lập một doanh nghiệp không cần vốn đầu tư lớn ban đầu, nhưng sự phát triển nhanh chóng của doanh nghiệp sẽ nhanh chóng đòi hỏi phải tăng vốn và sự tài trợ của ngân hàng. Khi đó chủ doanh nghiệp có thể quyết định thành lập công ty bằng cách lôi kéo những bà con bạn bè mà họ có thể tin tưởng được mà không sợ mất quyền kiểm soát công việc kinh doanh. Những người này đem vào công ty được thành lập tiền bạc hoặc tài sản khác tạo thành vốn của công ty. Họ cũng có thể không tham gia vào công ty nhưng đứng ra bảo lãnh cho công ty hay thế chấp tài sản để giúp công ty vay tiền ngân hàng.

Các công ty lớn như Công ty cổ phần khi cần đến các khoản tiền quan trọng có thể đề nghị các cổ đông hay những người ngoài công ty đăng ký mua cổ phần mới hoặc phát hành các trái phiếu để vay vốn trong công chúng.

>> Xem thêm:  Doanh nghiệp tập thể là gì ? Khái niệm về doanh nghiệp tập thể (Hợp tác xã)

- Lợi ích về pháp lý: Việc thành lập một công ty có sản nghiệp riêng tách biệt với sản nghiệp của các thành viên mang lại nhiều lợi ích.

Trong bối cảnh của một Doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân trên toàn bộ tài sản của mình. Nếu người này không muốn chịu rủi ro mất toàn bộ tài sản thì họ chỉ có hai con đường: một là giấu đi một phần tài sản để tránh khỏi sự kê biên của các chủ nợ, điều này thật không dễ dàng và không đáng khuyến khích; hại là thành lập công ty trong đó trách nhiệm của họ được giới hạn tới mức phần góp vốn: Công ty TNHH, Công ty cổ phần.

- Lợi ích về thuế: Sự chuyển đổi từ Doanh nghiệp tư nhân, hay Hộ kinh doanh cá thể sang công ty có thể có lợi ích về thuế. Việc lựa chọn hĩnh thức công ty tùy thuộc vào chính sách thuế của Nhà nước. Đại khái chúng ta có thể ghi nhận như sau:

Trong Doanh nghiệp tư nhân toàn bộ lợi tức của doanh nghiệp phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế này được tính tuỳ theo ngành nghề kinh doanh, bĩnh quân là 28%. Hộ kinh doanh cá thể theo quy định hiện hành phải trả một sô' thuê' trực tiếp (khoán) do úy ban nhân dân phường hay quận ấn định.

Đối với Công ty TNHH hay Công ty cổ phần, công ty cũng phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, lương trả cho các nhân viên điều hành công ty được tính vào chi phí sản xuất và được khấu trừ vào phần lợi tức chịu thuế. Nhân viên điều hành ăn lương chịu thuê' thu nhập cá nhân như những người lao động khác; lãi hay cổ tức chia cho các thành viên hay cổ đông được xem là thu nhập của người thụ hưởng và chịu thuế thu nhập cá nhân.

Sau khi đã quyết định thành lập công ty, vẩn đề bây giờ là phải lựa chọn một hình thức công ty thích hợp. Có nhiều loại hình công ty mà chúng ta có thể phân loại như sau:

3. Khái niệm công ty thương mại

Công ty thương mại hay công ty mua bán là các doanh nghiệp làm việc với các loại sản phẩm khác nhau được bán cho người tiêu dùng, cho mục đích kinh doanh hay của chính phủ. Hãng buôn mua một loạt các sản phẩm, duy trì cổ phiếu hay một cửa hàng và phân phát sản phẩm tới khách hàng.

- Công ty thương mại bị chi phối bởi Luật Doanh nghiệp ngày 12.06.1999 (công bố ngày 26.06.1999 và có hiệu lực từ ngày 01.01.2000). Hiện nay, Luật Doanh nghiệp ngày 2020, có hiệu lực từ ngày 01.01.2021 (sau đây gọi là Luật Doanh nghiệp 2020).

4. Pháp chế về công ty thương mại

>> Xem thêm:  Doanh nghiệp là gì ? Khái niệm về doanh nghiệp

Trước năm 1999, các công ty thương mại được quy định bởi Luật Công ty và Doanh nghiệp tư nhân ngày 21.12.1990 sửa đổi bổ sung bởi Luật ngày 22.06.1994. Luật này dự liệu ba loại công ty chính là: Công ty cổ phần, Công ty TNHH và Doanh nghiệp tư nhân, về nội dùng nói chung Luật này còn sơ sài, và với thời gian đã tỏ ra không thích hợp với sự phát triển của công việc kinh doanh ngày càng đa dạng. Sau khi có chính sách “đổi mới”, Luật Kinh doanh ngày 15.06.1999 ra đời mang lại một nguồn lực mới cho hoạt động kinh doanh trong nước. 5au Chương I về những quy định chung; Chương 11 (Điều 09-25) quy định chi tiết về thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh; Chương III, IV, V, VI (Điều 26-104) quy định các nguyên tắc về việc thành lập, điều hành Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân; Chương VII dự liệu việc tố chức lại, giãi thể và phá sản doanh nghiệp; Chương VIII có nội dung nói về sự quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp; Chương IX liên quan đến xử lý các vi phạm Luật Kinh doanh (kỷ luật, xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự); Chương X dự liệu biện pháp chuyển tiếp đối với các doanh nghiệp được thành lập trước khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực.

Sau ngày ban hành Luật Doanh nghiệp 2020 có một số văn bản pháp quy của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật này, cụ thể là:

- Nghị định số 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp

- Nghị định 47/2021/NĐ-CP hướng dẫn Luật Doanh nghiệp

- Thông tư 01/2021/TT-BKHĐT hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành

Trong nỗ lực cải tiến pháp chế để hội nhập với cộng đồng thương mại quốc tế, Quốc hội Việt Nam đã biểu quyết thông qua Luật Doanh nghiệp mới ngày 17.106.2020 (có hiệu lực từ 01.01.2021) thay thế Luật Doanh nghiệp 2014.

Đặc điểm của Luật Doanh nghiệp mới là Luật này được áp dụng cho các Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, không phân biệt là doanh nghiệp Nhà nước hay Doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay đầu tư trong nước.

Trong đó có sự thay đổi về khái niệm doanh nghiệp Nhà nước.

- Khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 Luật này.

(Còn theo Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ)

>> Xem thêm:  Trụ sở doanh nghiệp là gì ? Quy định pháp luật về trụ sở doanh nghiệp

- Ngoài ra, Theo Điều 205 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty TNHH, công ty CP hoặc công ty hợp danh theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

+ Doanh nghiệp được chuyển đổi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này;

+ Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả khoản nợ chưa thanh toán và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn;

+ Chủ doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận bằng văn bản với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty được chuyển đổi tiếp nhận và tiếp tục thực hiện các hợp đồng đó;

+ Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản với các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp tư nhân.

Luật Doanh nghiệp 2014 chỉ quy định trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH.

- So với quy định của luật doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020, bổ sung thêm trách nhiệm của người quản lý công ty cổ phần như sau:

Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba.

- Luật doanh nghiệp 2020 quy định thêm trường hợp chấm dứt tư cách thành viên hợp danh:

Theo khoản 1 Điều 185 Luật Doanh nghiệp 2020, thành viên hợp danh bị chấm dứt tư cách trong trường hợp sau đây:

>> Xem thêm:  Lãi ròng là gì ? Cách hiểu đúng về lãi ròng ? Cho Ví dụ về lãi ròng

+ Tự nguyện rút vốn khỏi công ty;

+ Chết, mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

+ Bị khai trừ khỏi công ty;

+ Chấp hành hành phạt tù hoặc bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của pháp luật;

+ Trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.

+ So với Luật Doanh nghiệp 2014, thêm trường hợp "có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi" và "chấp hành hành phạt tù hoặc bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của pháp luật".

- Luật Doah nghiệp 2020 Bổ sung quy định "thực hiện quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân trong một số trường hợp đặc biệt"

So với quy định hiện hành, Luật Doanh nghiệp 2020, bổ sung quy định "thực hiện quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân trong một số trường hợp đặc biệt" như sau:

+ Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc thì ủy quyền cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết thì người thừa kế hoặc một trong những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ doanh nghiệp tư nhân theo thỏa thuận giữa những người thừa kế. Trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận được thì đăng ký chuyển đổi thành công ty hoặc giải thể doanh nghiệp tư nhân đó.

>> Xem thêm:  Vốn cố định là gì ? Đặc điểm, vai trò của vốn cố định? Phân biệt giữa vốn cố định và vốn lưu động?

+ Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân được xử lý theo quy định của pháp luật về dân sự.

+ Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân được thực hiện thông qua người đại diện.

+ Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thuộc phạm vi ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh ngành, nghề có liên quan theo quyết định của Tòa án hoặc chuyển nhượng doanh nghiệp tư nhân cho cá nhân, tổ chức khác.

5. Bản chất pháp lý của công ty

Vấn đề đặt ra là câng ty vốn được thành lập do sự kết hợp của một số người cùng nhau góp vốn để theo đuổi một mục đích kinh tế chung, về phương diện bản chất pháp lý là một hợp đồng hay là một định chế? Quan điểm xem công ty là một loại hợp đồng được các tác giả cổ điển chủ trương, họ xem nguyên tắc tự do của ý chí là cơ sở của mọi hành vi pháp lý; cũng như hôn nhân, công ty là một loại hợp đồng. Nhiều quy tắc trong Luật Công ty đã mượn kỹ thuật của hợp đồng: công ty phải thoả mãn các điều kiện về sự hữu hiệu của hợp đồng (sự thoả thuận, năng lực, đối tượng) và các quy tắc điều hành công ty có thể được giải thích bằng luật về hợp đồng (Giám đốc được ủy quyền để quản lý công ty).

Tuy nhiên, ý niệm hợp đồng không đủ biện minh cho bản chất pháp lý của công ty khi mà nhà làm luật đã quy định những điều kiện bắt buộc để thành lập công ty. Ngoài ra, công ty chỉ có thể hoạt động sau khi đã thực hiện một thủ tục hành chính, đó là việc đăng ký, chứ không phải chỉ đơn thuần sau khi đã có sự thoả hiệp ý chí của các thành viên. Pháp nhân của công ty có những quyền lợi riêng biệt với quyền lợi của các thành viên. Người điều hành công ty được chỉ định theo các điều kiện do luật quy định và có các quyền được ấn định một cách bắt buộc bởi luật pháp. Điều lệ công ty có thể được sửa đổi bởi đa số thành viên, trong khi việc sửa đổi hợp đồng phải được sự nhất trí của tất cả các bên ký kết.

Do đó, đã xuất hiện quan điềm cho rằng công ty là một định chế. Định chế là tổng thể các quy tắc pháp lý có tính cách bắt buộc đối với một nhóm người theo một mục đích xác định; quyền lợi riêng phụ thuộc vào mục đích xã hội theo đuổi. Như vậy, quyền lợi của các thành viên công ty không cố định như dự liệu tròng văn bản thành lập mà có thể được thay đổi theo quyết định của đa số nhân danh quyền lợi của công ty; những người lãnh đạo của công ty không phải là những người được ủy quyền mà là các cơ quan có nhiệm vụ thực hiện ý chí chung; các quyết định của đa số có thể bị huỷ bỏ nếu trái với lợi ích của công ty.

Nhưng cả hai lý thuyết trên, xét riêng rẽ đều không thoả đáng. Quan niệm định chế đã bỏ qua văn bân thành lập công ty vốn có bản chất là một hợp đồng. Do đó, cần phối hợp cả hai quan niệm này: trong công ty có những quy tắc thuộc về hợp đồng, và cũng có các quy tắc thuộc về định chế. Các điều khoản có tính hợp đồng rất rõ nét trong Công ty hợp danh, trong khi đối với Công ty cổ phần thì định chế lại lấn át hợp đồng.

>> Xem thêm:  Luật doanh nghiệp là gì ? Bình luận về quá trình hình thành và phát triển của Luật doanh nghiệp?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khái niệm về pháp chế?

Trả lời:

Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác. Pháp chế cũng biểu thị quá trình tạo lập nên pháp luật.

Câu hỏi: Khái niệm về công ty đối nhân?

Trả lời:

Công ty đối nhân là loại công ty mà trong đó các thành viên thường quen biết nhau. Họ liên kết thành lập công ty với nhau là do tín nhiệm nhau để cùng kinh doanh kiếm lời, sự hùn vốn là yếu tố thứ yếu.

Câu hỏi: Vai trò của Doanh nghiệp?

Trả lời:

Doanh nghiệp thương mại có trách nhiệm quan trọng với nền kinh tế quốc dân. Bởi liên quan trực tiếp với các mối quan hệ lớn trong xã hội giữa cung và cầu và cả các loại chi phí sản xuất.

Vừa là cầu nối trung gian giữa người sản xuất và tiêu dùng. Điều chỉnh tỷ lệ cân đối trong sự phát triển của các ngành nghề kinh tế - đời sống hàng ngày.

Doanh nghiệp thương mại có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông tạo điều kiện không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, tích cực góp phần tăng tích lũy xã hội nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập mau chóng vào nền kinh tế thế giới.

Doanh nghiệp thương mại thông qua hoạt động kinh doanh của mình đã làm tốt việc phân phối hàng hóa từ nơi thừa đến nơi thiếu qua đó nâng cao mức hưởng thụ của người dân.

Và khi mức sống của người dân được tăng lên thì vai trò của doanh nghiệp thương mại càng quan trọng.

Doanh nghiệp thương mại có vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường nước ngoài thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, đưa hàng hóa trong nước ra nước ngoài và nhập hàng hóa, thiết bị kỹ thuật.

Hiện nay có rất nhiều loại hình doanh nghiệp và công ty thương mại mà bạn có thể lựa chọn thành lập bao gồm: Công ty TNHH TM MTV, Công ty TNHH TM 2TV, Công ty Cổ Phần Thương Mại, Công ty Thương Mại và Dịch Vụ - TMDV.