1. Cảnh cáo
Hình phạt cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.
Người phạm tội được áp dụng hình phạt cảnh cáo nếu có đủ các điều kiện sau:
- Tội phạm mà họ thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự thì tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đôì với tội ấy là đến ba năm tù. Luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đến ba năm tù nên phải hiểu là mức cao nhất của khung hình phạt tối đa là ba năm tù (có thể là ba năm nhưng cũng có thể là dưới ba năm). Ví dụ: Tội làm sai lệch kết quả bầu cử (Điều 127) có ba khoản, trong đó có hai khoản quy định hình phạt chính, tương ứng với hai khoản là hai khung hình phạt. Khoản 1 có mức cao nhất của khung hình phạt là hai năm tù; khoản 2 có mức cao nhất của khung hình phạt là ba năm tù. Như vậy, cả hai khoản đều là tội phạm ít nghiêm trọng nên tội làm sai lệch kết quả bầu cử luôn luôn là tội phạm ít nghiêm trọng dù người phạm tội bị truy cứu theo khoản 1 hay khoản 2 của Điều 127 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, có những tội vừa là tội ít nghiêm trọng lại vừa là tội nghiêm trọng. Ví dụ: Tội trộm cắp tài sản (Điều 138) có 5 khoản, trong đó có 4 khoản quy định hình phạt chính và tương ứng với 4 khoản là 4 khung hình phạt, nhưng chỉ có khoản 1 là tội phạm ít nghiêm trọng, còn khoản 2, khoản 3 và khoản 4 là tội phạm nghiêm trọng, vì các khoản này có mức cao nhất của khung hình phạt trên ba nãm tù. Việc xác định tội phạm ít nghiêm trọng không phải căn cứ vào mức cao nhất của hình phạt đối với tội đó, mà căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt. Một tội phạm được quy định trong một điều luật có thể có một khung hình phạt nhưng cũng có thể có nhiều khung hình phạt.
- Có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tức là phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự. Theo quy định này, về lý thuyết, không nhất thiết người phạm tội phải có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, mà có thể chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và một tình tiết quy định tại khoản 2, thậm chí cả hai tình tiết đều được quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên nếu là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 thì Tòa án phải ghi rõ trong bản án đó là tình tiết nào và vì sao lại coi đó là tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên thực tiễn xét xử cho thấy, người phạm tội được áp dụng hình phạt cảnh cáo phải là người có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó nhất thiết phải có tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và mức độ giảm nhẹ của các tình tiết này là đáng kể tới mức gần được miễn hình phạt. Cũng chính vì vậy, Điều 29 Bộ luật hình sự quy định: "...và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt".
Hai điều kiện trên là điều kiện cần và đủ để Tòa án áp dụng hình phạt cảnh cáo đôi với người phạm tội, thiếu một trong hai điều kiện này Tòa án không được áp dụng hình phạt cảnh cáo đốì với người phạm tội. Ngoài hai điều kiện trên, luật không quy định thêm điều kiện nào khác, nhưng khi áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người phạm tội Tòa án phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi đã xem xét đánh giá một cách toàn diện, thấy bị cáo thuộc diện gần được miễn hình phạt thì mới áp dụng hình phạt cảnh cáo đốì với họ. Việc xác định một người thuộc diện gần được miễn hình phạt là thuộc quyền của Hội đồng xét xử, sau khi đã cân nhắc một cách toàn diện các tình tiết của vụ án, pháp luật không thể quy định một cách máy móc các thang bật cho từng trường hợp cụ thể. Hình phạt cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất trong hệ thông hình phạt. Người bị phạt cảnh cáo sau một năm, nếu không Tòa án cấp phúc thẩm mới thì đương nhiên được xoá án tích theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự.
Hình phạt cảnh cáo là loại hình phạt không thể lượng hoá, về mặt phát lý nó là hình phạt nhưng về thực tế nó lại hình như không phải là hình phạt. Do đó trong nhận thức của nhân dân nói chung "cảnh cáo là tha bổng". Tuy nhiên hậu quả pháp lý của loại hình phạt này có ý nghĩa to lớn trong một số trường hợp cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội như phạt tiền; trục xuất; cấm đảm nhiệm chức vụ; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định... nếu không tuyên hình phạt chính thì Tòa án không được áp dụng hình phạt bổ sung. Ví dụ: Một người phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Khi xét xử, Tòa án thấy chỉ cần áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với bị cáo nhưng xét thấy cần phạt người này một khoản tiền, nên đã lựa chọn hình phạt cảnh cáo là hình phạt chính và phạt tiền là hình phạt bổ sung.
2. Phạt tiền
Phạt tiền là Tòa án buộc người phạm tội phải nộp một số tiền theo quy định của pháp luật để sung quỹ Nhà nước. Phạt tiền vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung.
Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật hình sự. Như vậy, phạm vi và đối tượng áp dụng phạt tiền là hình phạt chính được mở rộng hơn Bộ luật hình sự năm 1985. Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ có năm trường hợp phạm tội được quy định phạt tiền là hình phạt chính, còn chủ yếu phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung. Bộ luật hình sự năm 1999 có tới 68 trường hợp phạm tội được quy định phạt tiền là hình phạt chính. Ngoài các tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính thì còn nhiều tội phạm ít nghiêm trọng khác cũng được quy định phạt tiền là hình phạt chính.
Phạt tiền là hình phạt nặng hơn so với hình phạt cảnh cáo, nhưng cũng là loại hình phạt nhẹ so với các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt nên chỉ áp dụng đối với trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng. Ngoài ra, nhà làm luật không quy định những điều kiện khác khi áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội như đối với hình phạt cảnh cáo là phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng lại giới hạn là chỉ những trường hợp Bộ luật hình sự có quy định phạt tiền là hình phạt chính thì Tòa án mới được áp dụng.
Mức phạt tiền được quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng. Như vậy, mức thấp nhất của hình phạt tiền là một triệu đồng, còn mức cao nhất là tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể do Bộ luật hình sự quy định. Ví dụ: đốì với tội buôn lậu (khoản 1 Điều 153) khung hình phạt tiền là từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng. Tòa án có thể phạt dưới mười triệu đồng nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng không được dưới một triệu đồng, ngược lại, dù có nhiều tình tiết tăng nặng thì Tòa án cũng không được phạt trên một trăm triệu đồng. Việc xem xét tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đến tình hình tài sản của người phạm tội, đến sự biến động của giá cả là để ấn định một mức tiền phạt trong phạm vi khung hình phạt chứ không được tuỳ tiện vượt khung hình phạt, trường hợp phạt dưới mức thấp nhất phải ghi rõ lý do trong bản án.
3. Cải tạo không giam giữ
Cải tạo không giam giữ là không buộc người phạm tội phải cách ly khỏi xã hội mà họ được chung sống với gia đình như những người khác dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người đó làm việc hoặc thường trú.
Theo quy định tại khoản Điều 31 Bộ luật hình sự, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đôi với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật hình sự quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Theo quy định này, thì đối tượng để áp dụng hình phạ cải tạo không giam giữ bao gồm cả người phạm tội ít nghiêm trọng và người phạm tội nghiêm trọng. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự thì tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là đến bảy năm tù chứ không phải trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình như Bộ luật hình sự năm 1985 quy định. Bộ luật hình sự năm 1999 quy định thêm điều kiện để người phạm tội được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là họ phải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng mà Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định. Có đủ các điều kiện trên, nhưng nếu xét thấy không thể để họ ngoài xã hội thì Tòa án cũng không được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người phạm tội. Thời hạn tối đa đối với hình phạt cải tạo không giam giữ là ba năm.
Nếu người phạm tội đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ. Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định thời gian tạm giam mới được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, nhưng thực tiễn xét xử các Tòa án vẫn trừ cả thời gian tạm giữ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Bộ luật hình sự năm 1999 đã khắc phục thiếu sót này nhằm bảo đảm tính chính xác và nhất quán trong quy định cũng như trong áp dụng Bộ luật hình sự.
Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, Tòa án phải giao người bị cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục. Bộ luật hình sự năm 1999 còn quy định thêm: Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Quy định thêm này nhằm gắn trách nhiệm của gia đình người bị kết án với trách nhiệm của xã hội trong việc giám sát, giáo dục người phạm tội, làm cho hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng và thi hành có hiệu quả hơn.
Người bị phạt cải tạo không giam giữ phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho những việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án. Bộ luật hình sự năm 1985 không quy định trường hợp được miễn khấu trừ thu nhập, nên thực tiễn xét xử có trường hợp nếu khấu trừ thu nhập của người phạm tội thì cuộc sống bản thân và gia đình họ sẽ lâm vào tình trạng rất khó khăn. Thấy rõ được sự bất hợp lý này, Bộ luật hình sự năm 1999 đã khắc phục và quy định trường hợp được miễn khấu trừ thu nhập. Đây là quy định mở và người có quyền quyết định việc miễn là Hội đồng xét xử, do đó, Bộ luật hình sự quy định lý do miễn phải ghi rõ trong bản án để xem xét việc miễn của Hội đồng xét xử có căn cứ không.
4. Trục xuất
Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hình phạt trục xuất là loại hình phạt mới lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử trong những năm gần đây, Nhà nước ta cũng đã quyết định trục xuất một số người nước ngoài ra khỏi lãnh thể nước ta, những người này có thể là người đã bị kết án, nhưng cũng có thể là người không bị kết án. Việc Nhà nước ta quyết định trục xuất người nước ngoài ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong những năm qua là biện pháp hành chính, chứ không phải là biện pháp cưỡng chế về hình sự với ý nghĩa là một loại hình phạt.
Do yêu cầu của việc từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta, đồng thời đáp ứng tình tình phát triển của xã hội với xu thế hội nhập và mở cửa, nên có nhiều tổ chức và cá nhân nước ngoài vào Việt Nam làm ăn, kinh doanh hoặc du lịch. Trong thời gian làm ăn hoặc du lịch tại Việt Nam họ có thể có những hành vi phạm xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước Việt Nam, xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam hoặc của người nước ngoài, mà theo pháp luật Việt Nam họ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và trong nhiều trường hợp, việc cải tạo họ ở Việt Nam không đem lại hiệu quả, không đạt được mục đích của việc giáo dục cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, việc để họ tại Việt Nam còn gây ra những phức tạp không đáng có; việc trục xuất họ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam sẽ có lợi nhiều mặt. Hình phạt trục xuất là một biện pháp cưỡng chế đáp ứng được yêu cầu này. Tuy nhiên, không phải tất cả những người nước ngoài bị kết án đều áp dụng hình phạt trục xuất, mà chỉ áp dụng hình phạt này trong những trường hợp cần thiết. Hình phạt trục xuất có liên quan đến chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nên khi áp dụng hình phạt này cần phối hợp với cơ quan Ngoại giao để cân nhắc tính hiệu quả của việc áp dụng hình phạt trục xuất.
5.Tù có thời hạn
Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định.
Hình phạt tù có thời hạn là một loại hình phạt nghiêm khắc, vì người bị kết án bị tước tự do, bị cách ly với xã hội, họ phải lao động cải tạo trong trại giam dưới sự quản lý và giám sát của lực lượng cảnh sát. Chế độ cải tạo cũng như việc chấp hành hình phạt tù có thời hạn theo Pháp lệnh thi hành án phạt tù và nghị định của Chính phủ quy định.
Hình phạt tù có thời hạn trong Luật hình sự Việt Nam tuy là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, nhưng không mang tính chất trả thù hay hành hạ người bị kết án mà cải tạo giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Trong thời gian chấp hành hình phạt, nếu họ tiến bộ thì được xét giảm mức hình phạt. Thực tiễn cho thấy hầu hết những người bị phạt tù có thời hạn đều được giảm và được trả lại tự do trước thời hạn. Bộ luật hình sự còn có những quy định không phải chấp hành hình phạt tù khi đã hết thời hiệu (Điều 55); được miễn chấp hành hình phạt tù (Điều 57); giảm mức hình phạt tù (Điều 58); hoãn chấp hành hình phạt tù (Điều 61); tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Điều 62); án treo (Điều 60). Tất cả những quy định trên cho thấy hình phạt tù có thời hạn quy định trong luật hình sự nước ta có bản chất khác hẳn với hình phạt tù của một số’ nước trên giới.
Hình phạt tù có thời hạn có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm. Tuy nhiên, mức này chỉ đối với người phạm một tội, còn đối với người phạm nhiều tội thì mức tối đa có thể lên tới ba mươi năm. Đây là quy định mới so vối Bộ luật hình sự năm 1985. Bộ luật hình sự năm 1985 quy định dù một người có phạm nhiều tội, nhưng đều bị xét xử trong một bản án thì mức hình phạt tù tôi đa đối với người ấy cũng không được quá hai mươi năm. Việc quy định như vậy rõ ràng là không thể hiện được nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt, không có tác dụng đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Mức tốì thiểu và tối đa đối với hình phạt tù có thời hạn được quy định trong các điều luật và trong từng khung hình phạt cụ thể, không hoàn toàn giống với mức tốì thiểu và tối đa quy định cho loại hình phạt này, mà tuỳ thuộc vào từng tội phạm, từng trường hợp phạm tội cụ thể mà nhà làm luật quy định mức tốì thiểu và tối đa cho phù hợp; có tội phạm nhà làm luật chỉ quy định mức tối thiểu là ba tháng và mức tối đa là hai năm, nhưng có tội phạm phải quy định mức tối thiểu là mười năm và mức tôi đa là hai mươi năm. Nếu khung hình phạt quy định mức tối thiểu cao hơn ba tháng tù thì khi quyết định hình phạt Tòa án có thể phạt bị cáo dưới mức tối thiểu của khung hình phạt, nhưng không được xuống dưới ba tháng tù. Ví dụ: Một người bị kết án về tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Tòa án có thể phạt bị cáo dưới sáu tháng tù nhưng không được dưới ba tháng tù.
Người bị kết án bị Tòa án áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó họ đã bị tạm giữ hoặc tạm giam, thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù. So với Bộ luật hình sự năm 1985, thì Bộ luật hình sự năm 1999 quy định đầy đủ hơn. Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định thời hạn tạm giam được được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, do đó thực tiễn xét xử có Tòa án trừ cả thời gian tạm giữ, có Tòa án chỉ trừ thời gian tạm giam, có Tòa án lại tính thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đến khi thi hành, cơ quan Công an quản lý trại giam không biết tính thời hạn tù từ ngày bị bắt tạm giam hay bắt tạm giữ? Thực tiễn xét xử còn nhiều trường hợp người phạm tội bị bắt tạm giữ, tạm giam nhiều lần nhưng khi quyết định hình phạt, Tòa án chỉ tính từ ngày bị bắt cuổì cùng.
Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, nhưng không quy định Tòa án trừ ngay khi quyết định hình phạt hay Cơ quan Công an trừ trong quá trình thi hành hình phạt trong trại giam? Đây là vấn đề tưởng đơn giản nhưng nếu không có quy định thống nhất sẽ dẫn đến việc thi hành khác nhau. Nếu Tòa án trừ ngay khi quyết định hình phạt như từ trước tới nay vẫn làm, thì trong bản án phải tuyên mức hình phạt tù cụ thể, sau đó trừ thời gian tạm giữ, tạm giam rồi buộc người bị kết án chấp hành hình phạt tù còn lại, và thời hạn tù phải tính từ ngày tuyên án hoặc từ ngày bắt thí hành án. Ví dụ: Một người bị phạt ba năm tù vè tội cố ý gây thương tích, người này bị tạm giữ bảy ngày và bị tạm giam 4 tháng 10 ngày. Nếu đến ngày tuyên án người bị kết án vẫn bị tạm giam, thì Tòa án phải trừ thời hạn chấp hành hình phạt tù là 4 tháng 17 ngày, như vậy thời gian còn lại là 2 năm 7 tháng 13 ngày thời hạn tù tính từ ngày tuyên án, mà không được tuyên thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ hay bị bắt tạm giam. Nếu đến ngày tuyên án, người bị kết án không bị tạm giam, thì Tòa án phải tuyên trong bản án thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Nếu giao cho cơ quan Công an quản lý Trại giam trừ, thì hồ sơ thi hành án phải phản ảnh đầy đủ thời gian tạm giữ, tạm giam đối với người bị kết án và việc này phải được quy định trong Bộ luật hình sự hoặc Pháp lệnh thi hành án phạt tù. Cả hai cách trên đều không hợp lý dễ dẫn đến tình trạng không trừ thời gian tạm giữ, 4ạm giam cho người bị kết án. Để khắc phục tình trạng trên, theo chúng tôi, vẫn giao cho Tòa án trừ thời gian tạm giữ, tạm giam cho người bị kết án, nhưng trong bản án không cần phải ghi cụ thể thời hạn tù còn bao nhiêu mà chỉ ghi: "được trừ thời gian tạm giữ hoặc tạm giam là bao nhiêu tháng hoặc bao nhiêu ngày kể từ ngày, tháng, năm đến ngày, tháng, năm". Ví dụ:
- Phạt bị cáo bốn năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ hoặc tính từ ngày tạm giam (nếu là trường hợp bị cáo bị tạm giữ, bị tạm giam đến ngày tuyên án).
- Phạt bị cáo bôn năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (nếu bị cáo không bị tạm giam hoặc không bị bắt ngay tại phiên tòa) được trừ thời gian tạm giam 3 tháng 10 ngày, kể từ ngày 1-1-2000 đến ngày 10-3-2000.
Quy định như vậy, vừa chính xác lại vừa dễ theo dõi trong quá trình thi hành án phạt tù.Việc quy định này, chỉ cần các cơ quan tiến hành tố tụng hướng dẫn bằng Thông tư liên tịch mà không cần phải quy định trong Bộ luật tô' tụng hình sự hay Pháp lệnh thi hành án phạt tù.
6. Tù chung thân
Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đô'i với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.
Mặc dù là hình phạt tù không thời hạn, nhưng thực tiễn xét xử cũng như thực tiễn thi hành án phạt tù chưa có trường hợp nào người bị kết án phải chấp hành hình phạt suốt đời trong trại giam. Cũng chính vì vậy, trong quá trình soạn thảo Bộ luật hình sự năm 1999, có ý kiến đề nghị bỏ loại hình phạt tù chung thân trong hệ thông hình phạt và tăng mức hình phạt tù có thời hạn lên ba mươi năm. Tuy nhiên, sau nhiều lần thảo luận xét thấy hình phạt tù chung thân vẫn còn cần thiết trong hệ thông hình phạt nước ta để áp dụng đôi với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa tới mức bị xử phạt tử hình. Mặt khác, hình phạt tù chung thân còn có ý nghĩa răn đe và giáo dục người phạm tội, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm. Do đó Bộ luật hình sự năm 1999 vẫn quy định hình phạt tù chung thân trong hệ thống hình phạt.
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt tù chung thân chỉ áp dụng đôi với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng chứ không phải người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng như Bộ luật hình sự năm 1985. Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999, thì tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Theo quy định tại Điều 58 Bộ luật hình sự, thì người bị kết án tù chung thân nếu đã chấp hành được mười hai năm và có nhiều tiến bộ, có thể được giảm lần đầu xuống ba mươi năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là hai mươi năm. Đây là quy định mới so với Bộ luật hình sự năm 1985 có nghiêm khắc hơn, nhưng không phải nhằm trừng trị nặng hơn mà để cho phù hợp với cơ cấu hình phạt trong hệ thống hình phạt mới, trong đó hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người phạm nhiều tội có thể lên tới ba mươi năm tù.
Không áp dụng hình phạt tù chung thân đôi với người chưa thành niên phạm tội. Người chưa thành niên là người chưa đủ. 18 tuổi tròn. Ví dụ: một người sinh ngày 10-3-1982 mà phạm tội ngày 9-3-2000, thì chưa đủ 18 tuổi.
7. Tử hình
Tử hình là hình phạt tước bỏ quyền sống của người phạm tội nên nó chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và cũng chỉ áp dụng trong trường hợp đặc biệt.
Việc Bộ luật hình sự nước ta còn quy định loại hình phạt tử hình là xuất phát từ tình hình kinh tế xã hội của nước ta yêu cầu, cần phải có loại hình phạt tử hình nhằm trừng trị những kẻ phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm đến tính mạng, nhân phẩm của con người, xâm phạm sở hữu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm về ma túy, về tham nhũng, xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của công dân, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.
Trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay, việc Nhà nước vẫn còn giữ loại hình phạt tử hình là cần thiết vì như Mác đã nói: " Pháp quyền không bao giờ có thề cao hơn trạng thái kinh tế và cao hơn trình độ văn minh của xã hội tương ứng với trạng thái kinh tế ấy". Khi nền kinh tế phát triển, trình độ văn minh của xã hội càng cao, các thế lực thù địch không còn khả năng chống phá cách mạng xã hội chủ nghĩa nữa thì hình phạt tử hình cũng không còn cần thiết. Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh điều đó.
Hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt nước ta chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng không phải bất cứ người nào phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đều bị phạt tử hình, mà chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với những người gây tội ác rất lớn, gây phương hại đến an ninh quốc gia, những kẻ đã thoái hoá, biến chất, tham nhũng tiền của rất lớn... Khi cân nhắc giữa hình phạt tù chung thân với hình phạt tử hình mà thấy còn băn khoăn thì cương quyết không áp dụng hình phạt tử hình mà áp dụng hình phạt tù chung thân. Tòa án phải xem xét, đánh giá thật toàn diện tất cả các tình tiết của vụ án, khi không còn khả năng nào khác thì mới áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội.
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đốì với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.
Không thi hành án tử hình đôi với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.
Đây là quy định xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện nguyên tắc xử lý và chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên, đối với phụ nữ có thai và phụ nữ đang nuôi con nhỏ.
Về hình phạt tử hình, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định có điểm mới hơn so với Bộ luật hình sự năm 1985, đó là: Không áp dụng hình phạt tử hình đốì với phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; bỏ trường hợp thi hành án tử hình ngay sau khi xét xử.
Là hình phạt đặc biệt, nên nó không chỉ đặc biệt khi Tòa án áp dụng, mà việc thi hành cũng theo những thủ tục đặc biệt. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, thì sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, trong thời hạn bảy ngày, người bị kết án có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm án tử hình; dù người bị kết án có làm đơn xin ân giảm hay không thì hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, và bản sao bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tôi cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; nếu người bị kết án làm đơn xin ân giảm án tử hình thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trình với Chủ tịch nước về ý kiến của mình về hình phạt tử hình đối với người bị kết án, rồi chuyển hồ sơ vụ án cùng đơn xin ân giảm án tử hình của người bị kết án lên Văn phòng Chủ tịch nước để trình Chủ tịch nước xem xét quyết định; nếu Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình của người bị kết án thì mới được tổ chức thi hành. Trường hợp Chủ tịch nước chấp nhận đơn xin ân giảm án tử hình của người bị kết án thì án tử hình được chuyển thành tù chung thân.
Việc tổ chức thi hành án tử hình cũng được quy định rất chặt chẽ. Sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình, hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành án tử hình gồm đại diện Tòa án, Viện kiếm sát và Công an. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của người bị kết án, giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nếu người bị kết án xin ân giảm án tử hình thì phải giao cho họ đọc bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm. Tất cả việc trên, phải được lập biên bản ghi rõ việc đã giao các quyết định cho người bị kết án, ghi rõ những lời nói của họ, ghi rõ những thư từ, đồ vật mà người người bị kết án gửi lại cho thân nhân của họ. Trong trường hợp có tình tiết đặc biệt, Hội đồng thi hành án hoãn thi hành và báo cáo lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Thực tiễn xét xử đã có một số trường hợp, Hội đồng thi hành án đã hoãn thi hành, vì người bị kết án khai ra đồng phạm khác như trường hợp đôi với Siêng Phêng bị kết án tử hình về tội mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy từ Lào vào Việt Nam, do Siêng Phêng khai, nên cơ quan điều tra đã khám phá ra đường dây buôn lậu ma túy do Vũ Xuân Trường tổ chức cùng nhiều tên khác.