NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Đặc điểm chung của việc thi hành các hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất và án treo:

Thi hành các hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất và án treo là một phần của hoạt động thi hành án hình sự ở nước ta. Đó là hệ thống các hoạt động của các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành các nội dung bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về các loại hình phạt nói trên theo quy định của pháp luật.

Việc thi hành hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất và án treo có hai đặc trưng chung quan trọng là:

Thứ nhất, người bị kết án chấp hành các hình phạt này không phải cách ly khỏi xã hội. Họ được cải tạo, giáo dục tại cộng đồng. Đây là một ưu thê của thi hành hình phạt không phải phạt tù và tử hình. Bởi vì họ không bị tước quyền tự do, được sống và làm việc trong môi trường lành mạnh là cơ quan, tổ chức và địa phương mà trước khi phạm tội người đó vẫn sống và công tác, nơi mọi người hiểu rõ hoàn cảnh, tính cách và các điều kiện sống, công tác của người đó;

Thứ hai, chịu trách nhiệm thi hành các hình phạt này không phải là cơ quan chuyên trách vê' công tác thi hành án, mà là các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân. Do không phải là cơ quan chuyên trách về thi hành án, nên các cơ quan, tổ chức này gặp nhiều khó khăn khi thi hành nhiệm vụ được giao. Do đó, các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm thi hành các hình phạt này cần được sự hỗ trợ tích cực, nhất là hỗ trợ về nghiệp vụ của các cơ quan chuyên môn như Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an... Tuy nhiên, nhìn từ góc độ khác, cơ quan, tổ chức và cá nhân có vai trò rất quan trọng trong thi hành các hình phạt không phải tù và tử hình.

Đối với án treo, mặc dù từ góc độ pháp luật hình sự, án treo chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, nhưng việc thi hành án treo lại rất gần với thi hành các hình phạt không phải tù, đặc biệt là thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, có những nét đặc trưng của việc thi hành các hình phạt đó. Vì vậy, thông thường người ta coi thi hành án treo cũng là một phần của việc thi hành các hình phạt chính không phải tù và tử hình.

Ngoài các nét đặc trưng chung nêu trên, việc thi hành từng hình phạt khác nhau cũng có những nét đặc trưng xuất phát từ bản chất, nội dung của từng hình phạt đó.

2. Thi hành hình phạt cảnh cáo:

Người bị phạt cảnh cáo bị tuyên án công khai trước tòa. Có thể nói, hình phạt cảnh cáo hầu như không được thi hành trên thực tế. Sau khi có hiệu lực pháp luật, các cơ quan, tổ chức không có một hoạt động nào liên quan đến việc thi hành án.

Cũng có ý kiến cho rằng, việc tuyên án công khai chính là thi hành hình phạt cảnh cáo. Theo chúng tôi, quan niệm đó là không chính xác. Bồi vì, thứ nhất, tuyên án chỉ là một phần của thủ tục phiên tòa; thứ hai, trong trường hợp đó bản án chưa có hiệu lực pháp luật, chưa có quyết định thi hành án của Chánh án Tòa án nên chưa thể thi hành. Vì vậy, trong BLTTHS cũng như các văn bản pháp luật khác của Nhà nưởc ta, trình tự thủ tục thi hành hình phạt cảnh cáo chưa được quy định.

Đặc điểm nêu trên làm hạn chế hiệu quả của hình phạt cảnh cáo trong hệ thống hình phạt nước ta.

Như chúng tôi đã phân tích, do không xác định được nội dung hình phạt cảnh cáo, cho nên trên thực tế người bị xử phạt cảnh cáo không phải thi hành trên thực tế. Cũng có ý kiến cho rằng việc thi hành hình phạt cảnh cáo thể hiện ở việc Tòa án tuyên bản án buộc tội, nhưng quan niệm đó là không chính xác.

Vì vậy, vấn đề cần nghiên cứu đây là cần quy định nội dung hình phạt cảnh cáo thế nào cho hợp lý từ góc độ luật hình sự để từ đó xác định trình tự, thủ tục thi hành hình phạt này về mặt tố tụng. Có như vậy thì việc tuyên án của Tòa án không chỉ là lời tuyên án suông và người bị kết án hầu như không phải chịu một biện pháp cưỡng chế nào của Nhà nước. Hiệu quả xét xử của Tòa án mới được phát huy tích cực.

3. Thi hành hình phạt tiền:

Khác với các hình phạt chính khác, hình phạt tiên do Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự. Đặc thù về cơ sở pháp lý, về chủ thể thi hành tác động không nhỏ đến kết quả thi hành án phạt tiền trong mối quan hệ với thi hành các hình phạt chính khác.

Theo quy định của Điều 30 BLHS thì phạt tiền là hình phạt mà thông qua đó Nhà nước tước của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung quỹ nhà nước. Pháp luật hình sự nước ta càng ngày càng coi trọng vai trò của phạt tiền với tư cách là hình phạt chính. Hình phạt tiền không chỉ đơn thuần quy định áp dụng đối với người phạm tội do vụ lợi, các tội có dùng tiền làm phương tiện phạm tội. Phạt tiền được quy định đối với các tội phạm khác, đặc biệt là các tội xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế... Trong BLHS năm 1985, có 9 điều luật quy định phạt tiền là hình phạt chính; trong BLHS năm 1999 có 69 điều luật quy định phạt tiền là hình phạt chính. Tuy nhiên, trong thực tế phạt tiền được áp dụng với tư cách là hình phạt chính vẫn còn hạn chế; việc thi hành hình phạt này còn tỏ ra thiếu hiệu quả. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân khác nhau trong quy định của pháp luật cũng như thi hành pháp luật.

Theo quy định của BLHS năm 1985 thì phạt tiền được quy định ở hai dạng: dạng bắt buộc (như đối với các tội phạm về ma túy) và dạng tùy nghi, Tòa án có thể áp dụng hoặc không áp dụng. Trong thực tiễn xét xử, nhiều trường hợp bị cáo không có tài sản nhưng do BLHS quy định là bắt buộc nên Tòa án cũng áp dụng phạt tiền với họ với mức rất cao. Vỉ dụ: nhiều trường hợp Tòa án áp dụng hình phạt ở mức 20 triệu đồng đối với các bị cáo là người dân tộc ít người, người nghèo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Những trường hợp này hình phạt hầu như không được thi hành trên thực tế vì quyết định của Tòa án không mang tính khả thi. Nhưng nguyên nhân sâu xa lại là quy định bất cập của BLHS.

Theo quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự, Cơ quan thi hành án dân sự là người thi hành hình phạt tiền. Trong thực tiễn, việc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan khác nhau trong thi hành một hình phạt có những bất cập, khó khăn nhất định, nhất là việc thuyết phục, gỉáo dục để người bị kết án tự nguyện thi hành.

Rõ ràng, về mặt lý luận, việc tăng cường hình phạt tiền như là một hình phạt chính để hạn chế việc áp dụng hình phạt tù tràn lan, góp phần thực hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do cách quy định của pháp luật và việc tổ chức thi hành còn có yếu tố bất cập nên hình phạt tiền chưa pháp huy được hiệu quả mong muốn.

4. Thi hành hình phạt trục xuất:

Đặc điểm nổi bật nhất của việc thi hành hình phạt trục xuất là ỏ chỗ người bị kết án là người nước ngoài. Vì vậy, việc thi hành án đối với họ liên quan đến rất nhiều cơ quan, tổ chức, nhất là tổ chức nước ngoài; các biện pháp thi hành án phải thận trọng, chặt chẽ và phù hợp để không những đạt được mục đích thi hành án mà còn không ảnh hưởng đến chính sâch ngoại giao của Nhà nước ta, đến quan hệ nước ta với các nước khác, với các tổ chức quốc tê.

Hình phạt trục xuất được áp dụng đôi với người nước ngoài phạm tội. Đây là hình phạt mới được quy định trong BLHS năm 1999 nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong điều kiện mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế của nước ta. Một trong những đặc điểm của hình phạt trục xuất là nó không được quy định trong chế tài của các quy phạm cụ thể. Tùy theo trường hợp, Tòa án có thể áp dụng trục xuất đối với người phạm tội với tư cách là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung.

Theo quy định của BLTTHS, nếu được áp dụng là hình phạt chính, người bị phạt trục xuất phải tự mình rời khỏi Việt Nam trong thời hạn chậm nhất là 15 ngày, kể từ khi có quyết định thi hành án.

Trong trường hợp người bị kết án không tự nguyện chấp hành hình phạt rời khỏi Việt Nam trong thời hạn trên, thì cơ quan Công an có trách nhiệm thi hành quyết định của Tòa án bằng biện pháp cưỡng chế.

Tuy nhiên, kể từ khi BLHS có hiệu lực đến nay, hình phạt trục xuất đang còn rất ít được áp dụng. Vì vậy, để việc chấp hành hình phạt này có hiệu quả, đòi hỏi phải có thời gian và thực tiễn kiểm nghiệm mối có thể đưa ra được giải pháp hữu hiệu.

5. Vấn đề nâng cao hiệu quả thi hành các hình phạt:

Để nâng cao hiệu quả thi hành các hình phạt chính không phải phạt tù và tử hình, theo chúng tôi cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau đây:

- Nâng cao nhận thức về vai trò của các hình phạt chính không phải phạt tù và tử hình trong đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta. Phải làm cho toàn xã hội nhận thức được rằng việc áp dụng các hình phạt chính không phải phạt tù và tử hình là xu thế tất yếu trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do, dân chủ hiện nay. Để làm được điều đó, cần tăng cường công tác tổng kết về áp dụng các hình phạt này, tăng cưòng công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân...;

- Hoàn thiện pháp luật về thi hành các hình phạt chính không phải phạt tù và tử hình theo các hướng:

Ban hành văn bản pháp luật thống nhất về thi hành án để đảm bảo các nguyên tắc chung về thi hành án; điều chỉnh tốt mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan trong công tác thi hành án nói chung, trong thi hành các hình phạt chính không phải phạt tù và tử hình nói riêng;

Theo chúng tôi, nên giao cho tư pháp xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm chính trong thi hành án treo và hình phạt cải tạo không giam giữ. Chỉ giao người bị kết án cho cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục khi người đó không có nơi cư trú cố định, thường xuyên ở một địa phương nhất định như sinh viên, quân nhân... Đồng thời, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của những người này phối hợp với cơ quan, tổ chức, gia đình trong giám sát, giáo dục người bị kết án. Giao cho cơ quan xuất nhập cảnh công an tỉnh, thành phô' trực thuộc trung ương thi hành hình phạt phạt trục xuất, có sự phối hợp với Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao.

Quy định cụ thể, đầy đủ thủ tục thi hành các hình phạt chính không phải phạt tù và tử hình. Các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể trong công tác thi hành án phải được quy định rõ ràng. Quy định cụ thể chế tài pháp lý đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ trong thi hành án.

- Hoàn thiện tổ chức và quản lý công tác thi hành các hình phạt chính không phải phạt tù và tử hình.

Cần có hệ thống Cơ quan thi hành án thống nhất để thi hành các hình phạt và các quyết định khác của Tòa án

Cần giao cho một cơ quan thống nhất thực hiện quản lý công tác thi hành án.

Chỉ trên cơ sở pháp lý thống nhất (Bộ luật thi hành án), tổ chức Cơ quan thi hành án thống nhất và quản lý công tác thi hành án thông nhất thì mới đảm bảo cho cồng tác thi hành các hình phạt chính không phải phạt tù và tử hình được thực hiện chặt chẽ, có sự kiểm tra, giám sát thường xuyên và sự phối hợp tốt. Những yếu tố đó đảm bảo cho thi hành án đạt hiệu quả cao.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê