Bắt đầu mỗi buổi lễ, chúng ta thường nghe tụng câu:

Namo tassa bhagavato arahato sammā sambuddhassa

Trong đó,

Namo tassa: Xin cung kính đến vị ấy. Bhagavato: Đức Thế Tôn, Đức Phá-ga-va. Arahato: Bậc A-la-hán, Ứng Cúng.

Sammā sambuddhassa: Đấng Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác, Bậc Tự Giác Ngộ hoàn toàn, không ai chỉ dạy.

Nghĩa toàn câu: “Cung kính đến Ngài là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán (Ứng Cúng), đấng Chánh Biến Tri”.

Tiếp theo, là các câu tụng về ân đức Tam Bảo như sau:

>> Xem thêm: Quy y là gì? Quy y Tam Bảo như thế nào?

 

1. Ân đức Phật Bảo

Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro Purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā ti

Itipi so: Thật vậy, vị ấy là ...

Bhagavā: Đức Thế Tôn.

Arahaṃ: Người không còn ô nhiễm, bậc A-la-hán, bậc Ứng Cúng.

Sammāsambuddho: Đấng Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác, Bậc Tự Giác Ngộ hoàn toàn, không ai chỉ dạy.

Vijjācaraṇasampanno: Minh Hạnh Túc, người có trí tuệ và đức hạnh thành tựu một cách trọn vẹn.

Sugato: Bậc Thiện Thệ, vị đã ra đi một cách trọn vẹn, đã Niết-bàn.

Lokavidū: Người hiểu biết rõ ràng về thế gian, Thế Gian Giải.

Anuttaro: Không gì hơn được, Vô Thượng Sĩ.

Purisadammasārathi: Người có khả năng điều khiển, huấn luyện kẻ khác, Ðiều Ngự Trượng Phu.

Satthā devamanussānaṃ: Vị thầy của chư thiên và loài người, Thiên Nhân Sư.

Buddho: Bậc đã giác ngộ, Đức Phật.

Bhagavā: Đức Thế Tôn.

Nghĩa toàn câu: “Thật vậy, bậc đáng kính trọng ấy là A-la- hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”

Đây là đoạn văn rất thường gặp trong các bài kinh thuộc Đại Tạng Kinh do ngài Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ. Đó cũng là mười danh hiệu của Đức Phật. Tuy nhiên, trong một số kinh sách, chúng ta chỉ thấy đề cập đến chín danh hiệu, đó là vì hai danh hiệu Vô Thượng Sĩ và Ðiều Ngự Trượng Phu được gộp chung thành một, như có giải thích trong bộ luận Thanh tịnh đạo (Vism 7.48) của ngài Phật Âm (Buddhaghosa).

Ngoài ra, trong nhiều kinh sách của Phật giáo Bắc truyền có thấy thêm vào danh hiệu Như Lai, tạo ra mười một danh hiệu. Để có được con số mười danh hiệu, có sách gộp chung Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự Trượng Phu thành một, hay gộp chung Phật và Thế Tôn thành một danh hiệu.

Cuốn “Nghi thức tụng niệm” của chùa Pháp Luân, Texas, Hoa Kỳ, dịch thành kệ tụng:

Hồng danh Phật nhiệm mầu Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh đủ đầy, Đức ân Thiện Thệ cao dày,

Bậc Thế Gian Giải chỉ bày lý chân, Vô Thượng Sĩ pháp âm tịnh diệu, Bậc Trượng Phu Điều Ngự độ sinh, Thiên Nhân Sư đấng cha lành,

Phật Đà toàn giác, Thế Tôn trong đời.

>> Xem thêm: Tại sao phải nương tựa vào Tam Bảo trong khi Phật giáo đề cao sự tự thân tu tập và giải thoát?

 

2.  Ân đức Pháp Bảo

Svākkhāto bhagavato dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opanayiko paccattaṃ veditabbo viññūhī ti

Svākkhāto: Đã khéo được thuyết giảng.

Bhagavato: Của Đức Thế Tôn.

Dhammo: Giáo pháp.

Bhagavato dhammo: Pháp của Đức Thế Tôn.

Sandiṭṭhiko: Hoàn toàn hiển nhiên, được thấy rõ ràng.

Akāliko: Không đợi thời gian, không bị chi phối bởi thời gian.

Ehipassiko: Hãy đến và hãy thấy, mời đến để thấy.

Opanayiko: Có khả năng hướng thượng, dẫn dắt về hướng thượng (Niết-bàn).

Paccattaṃ: Tự cá nhân, riêng rẽ. Veditabbo: Nên được hiểu biết. Viññūhī: Bởi các bậc trí tuệ.

Nghĩa toàn câu: “Pháp của Đức Thế Tôn đã khéo được thuyết giảng, hoàn toàn hiển nhiên, không bị chi phối bởi thời gian, hãy đến và hãy thấy, có khả năng dẫn dắt về hướng thượng (Niết-bàn), và nên được hiểu biết tự cá nhân bởi các bậc trí tuệ.”

Hòa thượng Minh Châu dịch là “Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu.”

Cuốn “Nghi thức tụng niệm” của chùa Pháp Luân, Texas, Hoa Kỳ, dịch thành kệ tụng:

Pháp vi diệu, cha lành khéo dạy, Lìa danh ngôn, giác ngộ hiện tiền, Vượt thời gian, chứng vô biên,

Sát na đại ngộ, hoát nhiên liễu tường, Đạo vô thường, đến rồi thấy rõ,

Hướng thượng tâm, thoát ngõ vọng trần, Trí nhân tự ngộ giả chân,

Diệu thường tịnh lạc, Pháp ân nhiệm mầu.

 

3. Ân đức Tăng Bảo:

Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujupaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ñāyapaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho sāmīcipaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭhapurisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo anjalikaranīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā ti

Supaṭipanno: Đã tu hành tốt đẹp trong thiện đạo (thiện hạnh).

Bhagavato: Của Đức Thế Tôn.

Sāvakasaṅgho: Tăng chúng đệ tử.

Bhagavato sāvakasangho: Tăng chúng đệ tử của Đức Thế Tôn.

Ujupaṭipanno: Đã tu hành trong trực đạo (trực hạnh).

Ñāyapaṭipanno: Đã tu hành trong chân đạo (như lý hạnh).

Sāmīcipaṭipanno: Đã tu hành trong chánh đạo (chân chánh hạnh).

Yadidaṃ: Điều trên có nghĩa là thế này.

Cattāri: Bốn (số đếm).

Purisayugāni: (Bốn) cặp/đôi hạng người: đạo quả Dự lưu, đạo quả Nhất lai, đạo quả Bất lai, đạo quả A-la-hán (đạo và quả tính chung thành một đôi).

Aṭṭhapurisapuggalā: Tám hạng người, nếu tính đơn, đó là đạo và quả tách rời ra.

Esa: Nhóm người ấy, nhóm người đã nói ở trên.

Bhagavato: Của Đức Thế Tôn. Sāvakasaṅgho: Tăng chúng đệ tử. Āhuneyyo: Đáng được cung kính. Pāhuneyyo: Đáng được thân cận. Dakkhiṇeyyo: Đáng được cúng dường.

Anjalikaranīyo: Đáng được chắp tay, đáng được lễ bái.

Anuttaraṃ: Không gì hơn được, vô thượng. Punnakkhettaṃ: Nơi để gieo nhân phước báu, phước điền. Lokassā: Của thế gian.

Nghĩa toàn câu: Trong các bộ kinh Nikāya, Hòa thượng Minh Châu dịch là “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như lý hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chân Chánh hạnh; tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được thân cận, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay chào, là phước điền vô thượng ở trên đời.”

Cuốn “Nghi thức tụng niệm” của chùa Pháp Luân, Texas, Hoa Kỳ, dịch thành kệ tụng:

Bậc diệu hạnh, thinh văn Thích Tử, Bậc trực hạnh, pháp lữ thiền gia, Bậc như lý hạnh, Tăng-già,

Bậc chân chính hạnh, dưới tòa Thế Tôn, Thành đạo quả bốn đôi, tám chúng,

Đệ tử Phật Ứng Cúng tôn nghiêm, Cung nghinh kính lễ một niềm,

Thánh chúng vô thượng, phước điền thế gian.

Trì tụng, ghi nhớ và thông hiểu rõ ràng 3 câu tụng trên là một pháp hành căn bản nhưng rất quan trọng. Khi thông hiểu ý nghĩa, chúng ta tăng trưởng niềm tín thành nơi Tam Bảo. Khi ghi nhớ và trì tụng đều đặn, thường xuyên, chúng ta dưỡng nuôi sự định tâm.

Trong kinh Đầu Lá Cờ (SN 11.3), Đức Phật khuyên các vị tỳ-khưu khi hành thiền, sống độc cư trong rừng vắng, nên thường xuyên tụng niệm và quán tưởng đến ân đức Tam Bảo qua các câu trên để giúp các vị ấy có thêm tự tin, không còn lo âu, sợ hãi. Ngài tóm tắt trong câu kệ:

“Này các vị tỳ-khưu, Trong rừng hay gốc cây, Hay tại căn nhà trống, Hãy niệm bậc Chánh Giác. Các ông có sợ hãi,

Sợ hãi sẽ tiêu diệt.

Nếu không tu niệm Phật, Tối thượng chủ ở đời,

Và cũng là Ngưu vương, Trong thế giới loài Người, Vậy hãy tư niệm Pháp,

Hướng thượng, khéo tuyên thuyết.

Nếu không tư niệm Pháp,

Hướng thượng, khéo tuyên thuyết, Vậy hãy tư niệm Tăng

Là phước điền vô thượng.

Vậy này các tỳ-khưu, Như vậy tư niệm Phật, Tư niệm Pháp và Tăng, Sợ hãi hay hoảng hốt, Không bao giờ khởi lên”.

Đức Phật cũng khuyên hàng đệ tử cư sĩ có những tùy niệm tương tự như thế. Ngài dạy vị cư sĩ Đại Danh (Mahānāma) về sáu tùy niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí (bố thí), và niệm chư thiên. Về niệm Phật- Pháp-Tăng, Ngài nói:

- “Này Mahānāma, trong khi vị thánh đệ tử tùy niệm Tam Bảo (Phật-Pháp-Tăng), tâm của vị ấy không bị tham ám ảnh, không bị sân ám ảnh, không bị si ám ảnh. Tâm của vị ấy được chánh trực nhờ duyên Tam Bảo. Vị thánh đệ tử ấy, với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan, hỷ sinh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân được khinh an, cảm giác được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Này Mahānāma, như vậy gọi là bậc thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sinh không bình đẳng, sống đạt được vô sân với chúng sinh có sân, nhập được pháp lưu, tu tập tùy niệm Tam Bảo”. (AN 11.12)

Trong bộ luận Thanh tịnh đạo, ngài Phật Âm đề cập đến các lợi ích của pháp niệm ân đức Tam Bảo như sau:

- “Khi vị hành giả chú tâm đến việc suy niệm đấng Giác Ngộ như vậy, suy niệm Chánh Pháp như vậy, suy niệm chư Thánh Tăng như vậy, vị ấy có lòng tôn kính đức Phật, tôn kính Giáo Pháp của Ngài, tôn kính chư thánh Tăng đệ tử của Ngài. Vị ấy đạt đến sự viên mãn về đức tin, chánh niệm, trí tuệ và công đức. Vị ấy có nhiều hạnh phúc và an lạc, nhiếp phục được sự sợ hãi khủng bố, và có khả năng kham nhẫn, chịu đựng các khổ đau. Vị ấy có cảm giác như mình đang sống trước mặt đấng Đạo sư, đang sống trong Chánh Pháp, đang sống với các bậc thánh Tăng. Trong khi an trú suy niệm những đức tính đặc biệt của Tam Bảo, thân thể của vị hành giả ấy trở thành một nơi đáng tôn trọng như một đền thờ. Tâm vị ấy hướng về chư Phật, hướng về Pháp vô thượng, hướng về chư thánh Tăng. Hành giả ấy cảm thấy hổ thẹn và e sợ (tàm và quý) trước các ác pháp, và như thế giúp vị ấy không phạm giới. Nếu vị ấy không chứng đạt được quả vị cao thượng trong kiếp này, thì ít nhất, vị ấy cũng sẽ tái sinh vào một cảnh giới an lạc sau khi chết”. (Vism 7.100)

Đa số Phật tử Việt Nam chúng ta, thường không quen thuộc với các bài kinh tụng trong truyền thống Phật giáo Nam truyền, có lẽ sẽ cảm thấy bỡ ngỡ, khó khăn khi bắt đầu tụng niệm các câu ân đức Tam Bảo trình bày ở trên. Tuy nhiên, nếu có dịp gần gũi với chư Tăng Nam truyền và các cộng đồng Phật tử trong vùng Nam Á và Đông Nam Á như Thái Lan, Campuchia, Lào, Myanmar và Sri Lanka, và nếu chúng ta thường xuyên tham dự các khóa tu thiền, dần dần, chúng ta sẽ quen nghe các câu tụng căn bản đó. Các bài tụng nầy đã được thu âm và quảng bá rộng rãi trên các trang web Phật giáo của mạng Internet, qua các băng audio-cassette và đĩa CD; và điều đó sẽ giúp chúng ta học thuộc và tụng đọc dễ dàng hơn, nếu có quyết tâm học tập.

Qua kinh nghiệm bản thân cũng như qua các trao đổi với các bạn thiền sinh khác, một khi thông hiểu ý nghĩa và trì tụng ân đức Tam Bảo thuần thục đều đặn mỗi ngày, chúng ta sẽ thấy được nhiều lợi lạc do pháp hành tùy niệm đó mang đến cho sự hành thiền và làm phong phú thêm cho đời sống tinh thần của mình, như Đức Phật đã thường khuyên dạy cho hàng đệ tử khi Ngài còn tại thế. Xem thêm: Quy y Tăng Bảo là gì? Những điều cần phải biết sau khi quy y tam bảo

Nguồn: Bình Anson (Dịch – Căn bản phật giáo)