+ Niệm Phật đòi hỏi sự tập trung tâm ý chuyên nhất hơn nên sẽ đưa đến định (cận hành định).

+ Tụng kinh không thuộc đề mục thiền định, nhưng mà niệm Phật thì thuộc 1 trong 40 đề mục thiền định.

Niệm Phật nằm trong thập tùy niệm sau đây: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm Giới, niệm thiên, niệm tịch tịnh, niệm sự chết, niệm thân, niệm sổ tức.

 

1. Niệm Phật là niệm như thế nào ?

Niệm do từ sati - nhưng có khác với sati bên chánh niệm nên gọi là tùy niệm (anussati) (Anussati: Tùy niệm như trong niệm Phật (niệm 9 hồng danh) thì niệm liên tục cho đến lúc an trú cận hành.).Tùy niệm là theo dõi niệm, niệm luôn luôn, liên tục. Niệm Phật nhưng ta phải hiểu là có cả thảy 9 hồng danh:

-  Arahaṃ

-  Sammāsambuddho

-  Vijjācaranasampanno

-  Sugato

-  Lokavidū

-  Anuttaro purisadammasārathi

-  Satthādevamanussānaṃ

-  Buddho

-  Bhagavā

A-la-hán, Ứng Cúng

Chánh Biến Tri. Minh Hạnh Tức Thiện Thệ

Thế Gian Giải

Vô thượng Điều Ngự Trượng Phu

Thiên Nhơn Sư Phật

Thế Tôn

Trong 9 hồng danh này, tùy theo tâm cảm, sở thích, người tu Phật lựa chọn cho mình một hồng ân thích hợp làm đề mục tùy niệm cho mình. Như vậy, khi đã lựa chọn rồi thì mình phải chuẩn bị tu tập như một hành giả đang khởi sự tu tập thiền định vậy.

 

2. Tùy niệm là niệm như thế nào ?

Ví dụ: Hành giả chọn “Arahaṃ”, sau đó có thể niệm theo nhiều cách sau đây:

2.1- Danh niệm: Là đọc cái tên lên. Đọc “Arahaṃ, Arahaṃ”... liên tục, không gián đoạn. Cách niệm này là giai đoạn sơ khởi giúp hành giả xua đuổi tạp niệm và an trú tâm.

2.2- Tâm niệm: Là niệm thầm, niệm trong tâm (không thành lời) "Arahaṃ, Arahaṃ"... một cách liên tục, không gián đoạn. Mục đích cũng tương tự danh niệm nhưng tâm được an trú sâu hơn.

2.3. Ân đức niệm: Là tưởng niệm 9 hồng ân của Đức Phật. Hoặc là niệm ân đức, 3 đức tánh của bậc A-la-hán:

+ Vô Sanh: Bậc đã hoàn toàn thanh tịnh, đã diệt tận nhiễm ô, không còn dấy khởi sanh niệm phiền não, không còn trôi lăn, chìm đắm trong 3 cõi, 6 đường nữa.

+ Ứng Cúng: Bậc ấy đã dứt sạch tất cả mọi lỗi lầm, thân khẩu ý của ngài đều được trọn lành, xứng đáng cho chư thiên và nhân loại tán thán, cung kính, cúng dường.

+ Sát Tặc: Bậc ấy đã phá hủy tất cả căm xe sinh tử, đã chiến thắng tất cả giặc phiền não...

Ân đức niệm này thuộc tưởng niệm, giúp cho hành giả tăng trưởng đức tin, lìa triền cái, bớt tham đắm, thêm định, tăng trưởng tuệ.

 

3. Lợi ích của niệm Phật:

Danh niệm hoặc tâm niệm (mặc niệm) tuy là đề mục thiền định nhưng cốt ý để đối trị tạp niệm, thất niệm, loạn niệm; tuy tâm được an trú nhưng cao nhất chỉ đạt cận hành định chứ không thể đạt an chỉ định (tức định sơ thiền).

Lúc hành giả công phu hành trì thì lần lượt 5 thiền chi phát sanh để đối trị, làm lắng dịu 5 triền cái như sau:

Tầm (vitakka)            đối trị hôn trầm, thụy miên Tứ (vicāra)            đối trị nghi

Phỉ (pīti)                     đối trị sân

Lạc (sukha)               đối trị trạo cử

Nhất tâm (ekaggatā) đối trị dục (cận hành định và an chỉ định)

Ân đức niệm do quá nhiều đức tính chi phối nên cũng không thể đạt an chỉ định, chỉ đạt cận hành định.

Tuy nhiên, pháp môn niệm Phật là một thành trì ngăn giữ hữu hiệu tội lỗi, tàm quý tăng trưởng, tấn, định, đức tin đều được thêm sức mạnh. Ngoài ra, giữa cuộc đời, trong những lúc tương giao, ứng xử, người có niệm Phật dễ dàng vượt qua nghịch cảnh, dễ dàng đối trị với những phiền não từ xung quanh mang đến.

 

Kết luận:

Sám hối, tụng kinh, niệm Phật mới nghe qua tưởng là tầm thường, nhưng nếu học hiểu và thực hành cho thấu đáo thì chúng thường mang đến kết quả tức thời, hữu hiệu. Lại nữa, một pháp môn dẫu có sơ cơ, đại chúng; nhưng nếu hiểu trọn vẹn lý nghĩa, biết cách áp dụng, ứng dụng, chăm chuyên hành trì thì lợi ích của nó rất thù thắng vậy.

Thật đúng như câu thơ:

“- Ai ơi! niệm Phật tụng kinh Nghe ra thì dễ, thực hành khó thay Chuyên tâm tụng niệm hằng ngày

Phúc lành trổ quả đầy cây, đầy lòng”.

Nguồn: Minh Đức Triều Tâm Ảnh (Tỳ-khưu Giới Đức - Sīlaguṇa Bhikkhu) – Phật học tinh yếu