Sám hối, tụng kinh, niệm Phật là những phương thức sơ đẳng nhưng vô cùng cần thiết cho tất cả những người tu Phật. Đây là hình thức có tính cách tín ngưỡng như thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật vậy, nhưng ẩn bên trong là ý nghĩa của giáo pháp, chúng ta không thể không tìm hiểu cho thấu đáo.
Sám hối, tụng kinh, niệm Phật của đa phần đại chúng đồ hiện nay đã một phần nào sai lạc mất ý nghĩa cao đẹp của nó; đôi khi bị rơi vào thủ tục hình thức hoặc lấy phương tiện làm cứu cánh, đi xa tôn chỉ của đạo giác ngộ vậy.
Là những người học Phật chơn chánh, chúng ta cần phải biết rõ, đâu là hình thức của ngoại đạo tà giáo, nơi nào nhuốm màu mê tín, nơi nào ảnh hưởng sâu đậm hình thức lễ nhạc của Khổng Nho.
Vậy trước khi đi vào bài học này, chúng ta cần hiểu qua những sai lầm ấy để điều chỉnh cho đúng đắn.
1. Quan niệm sám hối là hết tội
Điều đầu tiên chúng ta cần minh định rằng, từ "sám hối" chỉ riêng đạo Phật mới có; còn thế gian và ngoại đạo tuy lập ngữ tương tự nhưng sai lệch ý nghĩa rất nhiều. Đó là những hình thức tạ lỗi, xin lỗi, chuộc tội hay rửa tội!.
- Làm điều gì đó khiếm lễ, sai lầm đối với kẻ khác thì người ta "xin lỗi" bằng lời nói, bằng cung cách cúi đầu tự hối hoăc có thể bằng hiện vật, quà tặng...
- Phạm tội với triều đình thì người ta "lập công chuộc tội".
- Có lỗi với ông bà, cha mẹ, dòng họ, làng nước thì người ta thiết lễ mâm trầu rượu, heo gà, tiền bạc hay quả phẩm để "tạ tội".
- Thiên chúa giáo quan niệm "rửa tội" là hết tội.
- Bà-la-môn giáo thì rửa tội bằng cách lấy máu súc vật để tạ tội với thần linh hoặc xuống sông Hằng tắm rửa cho sạch tội. Đôi khi tín đồ tôn giáo này lại sắm phẩm vật cúng tế nhiều ngày để mong thần linh xá tội và ban phước. Quan niệm tu hạnh ép xác, hành thân hoại thể với cầu mong diệt trừ hết tội lỗi cũng được tu sĩ và tín đồ của đạo này xem trọng.
- Lại có người tu Phật với quan niệm: Cứ lạy sám hối cho thật nhiều, nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Lạy sám hối với lòng thành khẩn, nhiệt tâm thì không những bao nhiêu tội lỗi tạo tác trong đời đều được dứt sạch; mà cho chí các tội lỗi tiền khiên, ngủ ngầm trong nhiều đời kiếp thảy đều tiêu vong!.
- Cũng có một số tín đồ tu Phật đến trước tượng Phật, Bồ-tát mà sám hối. Không phải họ sám hối một lần, hai lần mà có thể sám hối cả hàng chục, hàng trăm lần như thế; chỉ khi nào thấy Phật, Bồ- tát đến xoa đầu, thấy hào quang Chư Phật, thấy hoa sen tịnh độ thì mới thôi, thì mới hết tội...!
Sám hối là tốt. Sám hối nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Tuy nhiên, tất cả những quan niệm rửa tội, chuộc tội kể trên là của thế gian và ngoại đạo, không phải là ý nghĩa sám hối của đạo Phật. Còn những người tu Phật mà sám hối với cầu mong rửa sạch tất cả tội, kể cả tội tiền khiên thì hẳn là không được đúng. Đã gây nhân ác, thì phải bị quả khổ. Nếu do sự cải hối, lánh ác, làm lành thì quả báo ác nghiệp có thể nhẹ đi chứ không thể diệt mất đi được. Các tội ngủ ngầm thì lại càng không thể dù cho đã chứng quả Thánh như đức Mục-kiền-liên vẫn bị trả quả quá khứ.
Còn nữa, nếu sám hối mà thấy Phật, Bồ-tát đến xoa đầu, thấy hoa sen tịnh độ, tuy là triệu chứng tốt, là do "tưởng lành" sinh ra nhưng đấy chỉ là ảo giác! Và nếu thấy hào quang, ánh sáng thì đơn thuần chỉ là hiện tượng bình thường khi có sự chú tâm cao độ, sự tập trung tâm ý đến độ thuần thục, chuyên nhất! Nó chính là phỉ (pīti) ở trong năm thiền chi: Tầm (vitakka), tứ (vicāra), phỉ (pīti), lạc (sukha), và nhất tâm (ekaggatā).
2. Quan niệm về tụng kinh siêu độ
- Nếu tụng kinh mà "siêu độ" được thì người ta chẳng cần làm lành, lánh ác làm gì!
- Nếu tụng kinh mà "siêu độ" được thì người phật tử chẳng cần phải tu tập bố thí, trì giới, tham thiền làm gì cho mất thời giờ, tốn công phu, tiền bạc vô ích!.
- Nếu tụng kinh mà "siêu độ" được thì những kẻ làm ăn phi pháp, bất chánh vốn lắm tiền nhiều của, họ có thể hối lộ cho định luật nhân quả để kiếp sau an vui, sung sướng hay sao?
Than ôi! các quan niệm tụng kinh siêu độ ấy thật là đáng phàn nàn làm sao! Chẳng biết vô tình hay hữu ý, chúng ta đã nhấn chìm tư tưởng thanh cao, thoát trần của đạo Phật xuống cho vừa tầm với ước mơ dung thường của con người!.
Ngoài ra, chúng ta còn cần phải hiểu rằng, các hình thức về chuông, trống, xướng, tán đều là phương tiện của các bộ phái phát triển sau này. Các nước Phật giáo Theravāda đôi nơi có sử dụng chuông; nhưng mõ, trống, xướng, tán chỉ có mặt trong các quốc độ Phật giáo mang ảnh hưởng ít nhiều tinh thần "nhạc lễ" của Khổng Nho! Tinh thần nhạc lễ ấy rất hay, rất phù hợp với tâm địa đại chúng, rất khế hợp với tình cảm của con người nhưng đấy chỉ là phương tiện quyền biến của các bộ phái phát triển sau này mà thôi. Thời Phật chắc sẽ bị ngài rầy la (Đức Phật từng quở trách vị tỳ- khưu ngân nga đọc tụng). Các nước Phật giáo Nam phương thì đang cố gắng gìn giữ hình thức giản đơn, thanh thoát không đi xa tinh thần nguyên thủy.
Người Phật tử thật sự có tu giới, tu định, có tham thiền niệm Phật, thì thật sự không cần các phương tiện bên ngoài ấy.
3. Quan niệm niệm Phật có thể giải thoát sinh tử, chứng ngộ Niết-bàn
Chúng ta đều hiểu rằng, giới định tuệ là con đường tu tập của người xuất gia; và, bố thí, trì giới, tham thiền là con đường tụ tập của người cư sĩ. Tham thiền là từ gọi chung chỉ cho thiền định, thiền quán. Niệm Phật là một pháp môn của thiền định. Người ta đã gom lại và gọi chung là tham thiền, niệm Phật.
Do vậy, bố thí, trì giới và tham thiền niệm Phật, chúng liên hệ hỗ tương thiết cốt với nhau. Là ba yếu tố cần và đủ cho người cư sĩ. Nếu niệm Phật mà không có bố thí, trì giới thì chỉ là xây lâu đài trên cát. Có bố thí, có trì giới mà hiểu và hành niệm Phật một cách sai lạc thì cũng uổng phí cho sự tu tập vậy.
Chúng ta cần phải hiểu rằng:
- Niệm Phật thật sự rất lợi ích nếu hiểu đúng và hành đúng. Nó là pháp môn dễ dàng nhất dành cho đại chúng. Các pháp môn khác thuộc thiền định hoặc tu tập thiền tuệ thường đòi hỏi nhiều kiến thức giáo pháp đa dạng và phức tạp hơn.
Niệm Phật không chỉ có niệm Phật (Buddho) mà có thể niệm cả 9 hồng danh khác nữa, ví dụ Arahaṃ (Ứng Cúng), Sammāsambuddho (Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác)...
- Niệm Phật và cả niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên chỉ đưa đến cận hành định (xem phần thiền định).
Vậy, niệm Phật chỉ đưa đến cận hành định không thể đạt an chỉ định! Chưa đạt an chỉ định là chưa đạt sơ thiền! Chưa đắc định sơ thiền là chưa có định. Chưa có định lại chưa tu tập tuệ thì làm sao có thể nói niệm Phật có khả năng giải thoát sinh tử, chứng quả Niết- bàn!?
Sự hiểu lầm, nếu không muốn nói là sai lầm đáng tiếc này, bây giờ tràn lan từ các đạo tràng Tịnh Độ, người học Phật chơn chánh cần phải thấy rõ để khỏi lầm đường lạc lối, chạy theo ngọn, hoa lá trái mà bỏ quên cội nguồn.
Mong rằng, là phật tử, chúng ta cần trang bị cho mình con mắt Pháp, con mắt Tuệ để thấy cho thật rõ căn bản giáo pháp. Gần gũi hơn, là phải tìm hiểu thế nào là sám hối, tụng kinh và niệm Phật một cách đúng đắn để đem lại lợi ích thiết thực cho mình và người.
Nguồn: Minh Đức Triều Tâm Ảnh (Tỳ-khưu Giới Đức - Sīlaguṇa Bhikkhu) – Phật học tinh yếu