1. Khái niệm 

Quyết định hình phạt là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự, do Tòa án có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt ( hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho chính cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội trọng phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo  quy định của Bộ luật Hình sự.

2. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc không chỉ có trong hoạt động quyết định hình phạt, mà nó còn có trong nhiều hoạt động khác như: Tổ chức bộ máy Nhà nước, quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, trong việc xây dựng và thi hành pháp luật.v.v... Nhưng khi nguyên tắc này là tư tưởng chỉ đạo hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án thì yêu cầu của nguyên tắc này là: Khi quyết định hình phạt Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật hình sự, tức là chỉ áp dụng các hình phạt đã được Bộ luật hình sự quy định tại Điều 28. Đốì với mỗi loại hình phạt, chỉ được áp dụng trong những điều kiện nhất định mà Bộ luật hình sự đã quy định. Ví dụ: khi áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội thì phải trừ những người phạm tội là người chưa thành niên, là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tuổi.

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ: chỉ áp dụng hình phạt đối với người thực hiện hành vi mà hành vi đó được quy định trong Bộ luật hình sự là tội phạm. Nguyên tắc này không thừa nhận nguyên tắc tương tự. Đây cũng là vấn đề khi xây dựng Bộ luật hình sự có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng không nên bỏ nguyên tắc "tương tự" với lập luận rằng, Bộ luật hình sự không thể dự liệu được tất cả những hành vi có thể xảy Tìm Hiểu Tội Phạm Và Hình Phạt Trong Luật Hình ốự Việt Nam 235 ra cần xử lý bằng biện pháp hình sự, và "sợ" rằng nếu bỏ nguyên tắc "tương tự" thì sẽ nhất định bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên quan điểm này không được chấp nhận vì nó không phù hợp với xu hướng phát triển xã hội và tư tưởng pháp luật của một xã hội dân chủ. Vì vậy, Bộ luật hình sự năm 1985 đã tuyên bố một cách dứt khoát đoạn tuyệt với nguyên tắc "tương tự" mà trước đó các Tòa án vẫn áp dụng ở nơi này hoặc nơi khác. Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định: "chỉ người nào phạm một tội đã được luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự". Quy định này đã loại bỏ nguyên tắc "tương tự" trong luật hình sự, nhưng xét về tính pháp lý thì quy định này vẫn chưa chặt chẽ, vì luật hình sự không chỉ có Bộ luật hình sự mà còn bao gồm những đạo luật khác có quy định tội phạm và hình phạt.

Thực tiễn thi hành Bộ luật hình sự sau hơn 10 năm cho thấy không có trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm mà tội đó lại không được quy định trong Bộ luật hình sự, nên Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiẹm hình sự". Để bảo đảm cho nguyên tắc này thực hiện đúng đắn, trước hết Tòa án phải định tội danh thật chính xác, chỉ có định tội đúng thì quyết định hình phạt mới chính xác được. Việc loại bỏ nguyên tắc "tương tự" trong luật hình sự, không có nghĩa là khước từ việc tham khảo, vận dụng những quyết định đúng đắn, có sức thuyết phục của các bản án hoặc quyết định của các Tòa án, nhất là đôi với các quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tôi cao, cũng như các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật khác của Nhà nước khi quyết định hình phạt.

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa còn yêu cầu khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xem xét một cách đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ án, đốì chiếu với các quy định của Bộ luật hình sự để chọn một loại hình phạt, một mức hình phạt sao cho phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và trong hoàn cảnh cụ thể nó còn phải đáp ứng được yêu cầu chính trị xã hội ở điạ phương mà vẫn bảo đảm đúng pháp luật. Đây là yêu cầu mà thực tiễn xét xử không phải bao giờ các Tòa án cũng thực hiện tốt, không ít những vụ án mà bản án bị kháng theo thủ tục giám đốc thẩm là do Tòa án không thực hiện đúng yêu cầu của nguyên tắc này khi quyết định hình phạt.

3. Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa

Tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong luật hình sự nước ta được thể hiện rất rõ trong các quy phạm của Bộ luật hình sự. Khi công khai tuyên bố: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm" là đã thể hiện bản chất nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong luật hình sự của nước ta rồi. Nhân đạo xã hội chủ nghĩa là làm cho mọi người trong xã hội sống với nhau hòa thuận, thương yêu giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, trong xã hội không còn sự khác biệt giữa các giai cấp và các tầng lớp, một người vì mọi người, mọi người vị một người, nếu có người lầm lạc thì cả cộng đồng phải thương yêu, giúp đỡ họ để họ trở thành người lương thiện, không thành kiến, hắt hủi, ruồng bỏ. Việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội mà đạt được mục đích này, tức là đã thể hiện được nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

Tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa còn thể hiện ở nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 Bộ luật hình sự, trong đó quy định khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra. Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục. Đối với người bị phạt tù không bị khổ sai, không bị giam cầm như các nhà tù của chế độ bóc lột mà họ được lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng và được xoá án khi có đủ điều kiện.

Yêu cầu của nguyên tắc này là: Khi quyết định hình phạt, tòa án phải quan niệm kẻ phạm tội cũng là một con người, họ có đầy đủ các quyền về con người, nên phải tôn trọng các giá trị, phẩm chất của họ. Phải luôn luôn cho rằng, họ phạm tội chẳng qua là vì những hoàn cảnh và điều kiện xã hội và xã hội sẽ cải tạo họ trở thành con người lương thiện, không có con người nào là vô tích sự cả, hình phạt mà Tòa án áp dụng đối với người phạm tội không có tính chất trả thù mà phải nhằm mục đích hướng thiện. Trong trường hợp phải lựa chọn giữa hình phạt tù với hình phạt tử hình thì nhất thiết không áp dụng hình phạt tử hình, đối với những người không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù trong trại giam thì cho họ được hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn.

4. Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt

Cá thể hóa hình phạt là chọn một loại hình phạt, một mức hình phạt cụ thể đối với hành vi phạm tội cụ thể.

Đề ra nguyên tắc này khi quyết định hình phạt là xuất phát từ nguyên tắc trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình. Bộ luật hình sự nước ta chỉ quy định khung hình phạt cho một hành vi phạm tội cụ thể, và trong một khung hình phạt lại quy định nhiều loại hình phạt khác nhau. Do đó khi quyết định hình phạt, Tòa án chỉ có thể chọn một loại hình phạt cụ thể với một mức cụ thể cho một hành vi phạm tội. Ví dụ: Hoàng Thế Q phạm tội "vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng" thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 229 Bộ luật hình sự có hình phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, có hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt từ sáu tháng đến năm năm". Khi quyết định hình phạt, Tòa án chỉ có thể chọn một trong ba loại hình phạt đã được quy định trong điều luật, chứ không thể chọn cả ba loại hình phạt. Nếu Tòa án chọn loại hình phạt tiền đối với Hoàng Thế Q, thì phải chọn mức tiền cụ thể là bao nhiêu, chứ không thể quyết định từ mười triệu đến một trăm triệu đồng được.

Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt yêu cầu: Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tàng nặng, giám nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định một loại hình phạt, một mức hình phạt cụ thể đốì với người phạm tội. Muốn cá thể hóa hình phạt được chính xác, Tòa án không thể không xem xét đến các yêu cầu trên, các yêu cầu này cũng chính là căn cứ quyết định hình phạt được quy định tại Điều 45 Bộ luật hình sự.

Đối với vụ án có đồng phạm, thì khi quyết định hình phạt Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm (đồng phạm giản đơn hay có tổ chức), tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm (người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức); xác định trách nhiệm cá nhân của những người đồng phạm, vai trò của từng người, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người nào thì chỉ được áp dụng đối với người đó.

Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt có liên quan đến nhiều chế định khác trong Bộ luật hình sự, vì vậy khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội cụ thể, Tòa án phải xem xét hết các tình tiết có liên quan đến các chế định khác mà Bộ luật hình sự quy định có liên quan đến việc quyết định hình phạt của họ như: Tái phạm, tái phạm nguy hiểm; chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, miễn hình phạt, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự...

5. Nguyên tắc công bằng

Công bằng không có nghĩa là bằng nhau, mà tính công bằng được thể hiện ở thái độ của Tòa án đôì với người phạm tội, tức là dù họ là ai, xuất thân từ thành phần giai cấp, xã hội nào, khi phạm tội thì đều được đôì xử như nhau, không bị thành kiến, không thiên vị ai, không ai bị phân biệt đôì xử.

Nguyên tắc công bằng cũng là một nguyên tắc cơ bản của bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quyết định hình phạt, nguyên tắc công bằng thể hiện ở chỗ: Loại hình phạt và mức hình phạt mà Tòa án áp đụng phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội. Nếu hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ là không công bằng. Tính chất công bằng còn thể hiện ở chỗ, các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người nào, thì người đó được hưởng không phân biệt địa vị xã hội.