1. Quy định pháp luật về phạm tội có tổ chức
Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS), phạm tội có tổ chức được hiểu là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu.
Phạm tội có tổ chức là một hình thức đồng phạm, có sự phân công và sắp đặt vai trò của mỗi người tham gia. Mỗi người trong nhóm thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu. Phạm tội có tổ chức khác với người tổ chức trong đồng phạm. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu chỉ huy việc thực hiện tội phạm và có vai trò quan trọng trong vụ án có đồng phạm. Trong khi đó, phạm tội có tổ chức chỉ đề cập đến quy mô và tính chất nguy hiểm mà tội phạm đó đã xảy ra. Trong phạm tội có tổ chức, người tổ chức (người cầm đầu) có vai trò quan trọng, nhưng không chỉ người tổ chức mà tất cả những người tham gia đều bị coi là phạm tội có tổ chức.
Phạm tội có tổ chức cũng khác với hành vi tổ chức trong một số tội phạm cụ thể như tổ chức tảo hôn, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tổ chức đánh bạc, tổ chức người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. Phạm tội có tổ chức liên quan đến quy mô và tổ chức của tội phạm, trong khi khái niệm "tổ chức" trong các tội phạm cụ thể được nêu ở trên là hành vi phạm tội. Phạm tội có tổ chức yêu cầu ít nhất hai người tham gia, là một hình thức đồng phạm với sự câu kết chặt chẽ và sự phân công trách nhiệm. Trong khi đó, các tội phạm như tổ chức đánh bạc, tổ chức tảo hôn, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy... có thể chỉ có một người thực hiện hành vi phạm tội này.
- Trách nhiệm hình sự là “hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở chỗ người đã gây tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước”.
- Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý. Là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thực hiện.
- Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định.
- Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu Trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích
Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự 2015 quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Chỉ pháp nhận thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mới phải chịu trách nhiệm hình sự
2. Phạm tội có tổ chức có bị coi là tình tiết tăng nặng trong hình sự không?
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Căn cứ theo Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
+ Phạm tội có tổ chức;
+ Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
+ Phạm tội có tính chất côn đồ;
+ Phạm tội vì động cơ đê hèn;
+ Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;
+ Phạm tội 02 lần trở lên;
+ Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
+ Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai người đủ 70 tuổi trở lên;
+ Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;
+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
+ Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội
+ Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;
+ Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;
+ Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm
Lưu ý: Các tình tiết đã được Bộ luật quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng
Như vậy căn cứ quy định trên thì tình tiết phạm tội có tổ chức sẽ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nếu nó không phải tình tiết định khung theo quy định của từng loại tội phạm
3. Một số lưu ý khi áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (BLHS), "Các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự 2015 quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng". Do đó, khi áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, cần lưu ý một số trường hợp sau:
Khi kết án bị cáo về một tội phạm cụ thể mà tình tiết tăng nặng đã là tình tiết định tội, thì không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tương ứng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Ví dụ: Khi kết án một người về Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 187 BLHS, thì Tòa án không áp dụng thêm điểm a (có tổ chức) khoản 1 Điều 52 BLHS để quyết định hình phạt đối với họ.
Khi kết án bị cáo về một tội phạm cụ thể theo tình tiết tăng nặng định khung hình phạt mà tình tiết đó cũng được BLHS quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thì không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tương ứng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Ví dụ: Khi kết án một người về Tội cướp tài sản theo quy định tại điểm a (có tổ chức), b (có tính chất chuyên nghiệp), h (tái phạm nguy hiểm) hoặc điểm e (phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu...) khoản 2 Điều 168 BLHS, thì Tòa án không áp dụng thêm điểm a (có tổ chức), b (có tính chất chuyên nghiệp), h (tái phạm nguy hiểm) hoặc điểm i (phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu...) khoản 1 Điều 52 BLHS để quyết định hình phạt đối với họ.
Khi kết án bị cáo về một tội phạm cụ thể theo tình tiết tăng nặng định khung hình phạt (ở khoản nặng hơn), mặc dù họ cũng phạm tội trong trường hợp có tình tiết tăng nặng định khung ở khoản nhẹ hơn và tình tiết nhẹ hơn cũng được BLHS quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thì không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tương ứng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xem thêm bài viết sau>>>>>Tội cho vay nặng lãi theo quy định mới nhất 2023 luật hình sự?
Công ty Luật Minh Khuê cam kết luôn đem đến cho quý khách hàng những thông tin tư vấn pháp luật hữu ích và chất lượng. Chúng tôi hiểu rằng việc hiểu rõ các vấn đề pháp lý và có câu trả lời chính xác là rất quan trọng trong quá trình kinh doanh và đời sống cá nhân.
Để đáp ứng nhu cầu của quý khách hàng, chúng tôi sẵn lòng hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc liên quan đến vấn đề pháp lý. Quý khách có thể liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ nhân viên tư vấn chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm sẽ luôn sẵn sàng lắng nghe và giúp quý khách hàng giải đáp các vấn đề một cách tốt nhất.
Ngoài ra, nếu quý khách hàng muốn gửi yêu cầu chi tiết hoặc cần tư vấn kỹ hơn, chúng tôi cũng nhận email tại địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết sẽ phản hồi nhanh chóng và cung cấp thông tin cụ thể, chính xác để giúp quý khách hàng giải quyết vấn đề pháp lý một cách hiệu quả. Chúng tôi trân trọng sự hợp tác và sẵn sàng hỗ trợ quý khách hàng.
Xin chân thành cảm ơn quý khách hàng đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê để được tư vấn và giải đáp các vấn đề pháp luật.