1. Phạm tội đánh bạc lần đầu có bị ở tù không?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và 5 người kia có tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi bầu cua, tôi là con bạc lúc tôi bị bắt tôi đặt chỉ 100 nghìn , tiền trên chiếu bạc là 1. 300. 000 nghìn tiền của cái để kế bên là 9. 400. 000 lúc bị bắt tổng cộng trên chiếu bạc là 10. 700. 000 nghìn. Tôi là con bạc mới phạm tội lần đầu chưa có tiền án hay tiền sự gì ? vậy tôi có bị phạt tù không ?
Cảm ơn luật sư ạ.

Phạm tội đánh bạc lần đầu có bị ở tù không?

Luật sư tư vấn về tội đánh bạc trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 quy định về tội đánh bạc như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo thông tin bạn cung cấp thì tổng số tiền mà thu giữ là 10.700.000 đồng, so với quy định trên đã vượt quá mức tối thiểu là 5.000.000 đồng; vì thế dù là phạm tội lần đầu nhưng hành vi đánh bạc của bạn đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội đánh bạc.

>> Xem thêm:  Cá độ game có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

2. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi đánh bạc ?

Thưa luật sư, hôm qua tôi có tham gia đánh bạc tại công ty, bị bắt lúc 12h. Trên sòng bạc có 49 người đánh và 200 triệu tiền mặt. trường hợp của tôi phải xử lý như thế nào?

Người hỏi: TVĐ

Tham gia đánh bạc tại công ty bị phạt 30 triệu là đúng hay sai?

Luật sư tư vấn hình sự về mức phạt hành chính đánh bạc, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 về tội đánh bạc:

Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo quy định trên, hành vi của bạn có thể bị phạt tiền lên đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Tuy nhiên, việc xác định mức phạt là như thế nào thì còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và phải do tòa án quyết định. Quan trọng hơn, bạn chỉ phải thực hiện hình phạt phạt tiền sau khi đã có bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp của bạn, cơ quan công an không có quyền yêu cầu bạn phải thực hiện hình phạt này. Cơ quan công an chỉ có quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can sau đó để tòa án đưa ra mức hình phạt.

>> Xem thêm:  Chơi tú lơ khơ ăn tiền tại đám cưới thì bị xử phạt thế nào ?

3. Tham gia đánh bạc sẽ bị xử lý như thế nào ?

Thưa Luật sư! Ngày 20/3 chồng tôi đánh bạc thì bị công an xã vây bắt nhưng chỉ bắt được 2 người trên chiếu bạc không có tiền chỉ có 1 cái bát và 1 cái đĩa. Sau khi bắt 2 người về xã, 1 người trong đó đã bị đánh để lấy lời khai và họ không chịu nổi đòn đã khai ra tên 12 người trong đó có chồng tôi.

Ngay chiều hôm sau xã gửi giấy mời chồng tôi đến làm việc nhưng chồng tôi lại phải đi làm không có nhà. Vậy tôi muốn hỏi sự việc của chồng tôi xẽ bị xử lí như thế nào và có nặng không?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài 24/7: 1900.6162

Trả lời:

Về hành vi:

Căn cứ quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 về tội đánh bạc thì:

Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Do đó những người bị bắt phạm tội theo điều 321 nêu trên.

Về tính chịu trách nhiệm hình sự:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự có hướng dẫn “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

“a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.”

Căn cứ quy định tại Điều 82. Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

" 1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt."

Như vậy, Căn cứ theo quy định tại Điều 143 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 thì:

Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:
1. Tố giác của cá nhân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
6. Người phạm tội tự thú.

Như vậy, khi có đủ căn cứ chứng minh việc chồng bạn có tham gia vào ván bạc đó thì chồng bạn hoàn toàn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc quy định tại Điều 248 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, nếu không đủ cấu thành để truy tố hình sự thì chồng bạn có thể bị xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi đánh bạc này.

>> Xem thêm:  Cá cược bóng đá World Cup 2018 cần lưu ý những điều sau để tránh rủi ro pháp lý ?

4. Tội đánh bạc bị xử lý như thế nào theo quy định của luật hình sự ?

Kính chào Luật sư, thưa Luật sư,có một nhóm người gồm 3 người lại nhà anh tôi đòi tiền thiếu nợ. Nói qua lại thì nhóm người đó nhào vào đánh anh tôi, đánh qua lại thì anh tôi chạy vào nhà lấy cây dao chém trúng vào tay anh A một cái gây thương tích. Nhưng bên kia không yêu cầu giám định cũng không yêu cầu khởi tố anh tôi.

Do trước đó, vào ngày 3 tháng 3 năm 2014, người đó cùng anh tôi có chơi đánh bài ăn thua với nhau. Anh tôi thiếu 60 triệu đồng và 01 chiếc xe nên anh tôi nói nếu thưa anh tôi về tội gây thương tích thì anh tôi sẽ khai ra vụ đánh bạc trước kia. Thề rồi anh tôi sợ bên kia vào làm khó gia đình nữa nên anh tôi khai với công an về hành vi đánh bạc trước kia. Nhưng ăn thua bằng tiền thì công an không thu được, do đánh bạc đã lâu, nhưng công an đã thu giữ được chiếc xe. Vậy luật sư cho tôi hỏi vậy anh tôi và 03 người bên kia có bị khởi tố về tội đánh bạc hay không?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về tội đánh bạc, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định tại Điều 321 như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Thêm vào đó là điểm b Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định:

b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;

Như vậy, theo các quy định trên thì đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào bằng tiền hay hiện vật, mà tổng số tiền của lần đánh bạc đó bằng hoặc trên 2.000.000 đồng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo như bạn trình bày, anh trai bạn và ba người nữa đã tham gia đánh bạc với số tiền lớn trên 2.000.000 đồng (tiền mặt là 60 triệu và hiện vật là một xe máy) nên theo các quy định trên anh trai bạn và ba người kia thuộc đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng nghĩa với việc anh trai bạn và ba người đó có thể bị khởi tố về tội đánh bạc.

>> Xem thêm: Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự " của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

5. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật mới là gì??

Thưa luật sư cho tôi hỏi các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật mới là gì? cám ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bao gồm những tình tiết sau:

Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;Phạm tội do lạc hậu;Người phạm tội là phụ nữ có thai;Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;Người phạm tội tự thú;Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;Người phạm tội đã lập công chuộc tội;Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ
Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Cá độ bóng đá sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp Luật hiện hành ?