1. Người phạm tội mua bán, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người gây chết người sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào?

Hành vi mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người khác xảy ra vô cùng phổ biến hiện này. Hành vi này tuy không gây chết người nhưng gây hại rất lớn đối với sức khỏe người bị lấy mô, bộ phận cơ thể. Chư kể nhiều đối tượng sẽ lợi dụng sự khó khăn về kinh tế mà ép buộc người khác phải hiến mô, bộ phận cơ thể gây bất ổn tình hình trị an, an toàn xã hội. Do đó, pháp luật hình sự đưa ra một điều khoản riêng quy định về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.

Dựa vào điểm d khoản 3 Điều 154 Bộ luật Hình sự 2015, các hành vi phạm tội liên quan đến mua bán hoặc chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người được quy định như sau:

- Trường hợp 1: Người mua bán hoặc chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

- Trường hợp 2: Nếu phạm tội trong các trường hợp sau đây, hình phạt tù sẽ là từ 07 năm đến 15 năm: Có tổ chức; Vì mục đích thương mại; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp; Đối với từ 02 người đến 05 người; Phạm tội 02 lần trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

- Trong các trường hợp sau đây, hình phạt tù có thể là từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: Có tính chất chuyên nghiệp; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Đối với 06 người trở lên; Gây chết người; Tái phạm nguy hiểm.

Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Do đó, tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, người mua bán hoặc chiếm đoạt bộ phận cơ thể người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra, họ cũng có thể phải đối mặt với phạt tiền và các hình phạt khác như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc làm công việc nhất định trong khoảng từ 01 năm đến 05 năm.

 

2. Người phạm tội mua bán, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người gây chết người sau đó tự thú thì có được giảm nhẹ tội không?

Theo quy định của Điều 51, Bộ luật Hình sự 2015, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:

- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc giảm bớt tác hại của tội phạm.

- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, hoặc khắc phục hậu quả.

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra.

- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không do mình tự gây ra.

- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn.

- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

- Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức.

- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra.

- Phạm tội do lạc hậu.

- Người phạm tội là phụ nữ có thai.

- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên.

- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

- Người phạm tội tự thú.

Do đó, theo quy định, việc mua bán và chiếm đoạt bộ phận cơ thể người gây chết người sau đó tự thú được coi là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người này.

 

3. Đương nhiên được xóa án tích có áp dụng đối với người phạm tội mua bán, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người gây chết người không?

Theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự 2015 về việc đương nhiên được xóa án tích, có các điều sau:

Quy định áp dụng cho việc đương nhiên xóa án tích đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này, sau khi họ đã hoàn thành hình phạt chính, thời gian thử thách án treo, hoặc khi bản án không còn hiệu lực, và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 của Điều này.

Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu, kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã tuân thủ hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không vi phạm tội mới trong khoảng thời gian nhất định sau đây: 01 năm đối với phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được án treo; 02 năm đối với phạt tù từ 05 năm trở xuống; 03 năm đối với phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 05 năm đối với phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân với thời hạn dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c, thì thời hạn đương nhiên xóa án tích sẽ kết thúc khi người đó hoàn thành hình phạt bổ sung.

Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu, kể từ khi bản án không còn hiệu lực, người đó không vi phạm tội mới trong khoảng thời gian quy định tại khoản 2 của Điều này. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và cung cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích khi có yêu cầu, miễn là người đó đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 của Điều này.

Như vậy, tùy thuộc vào mức phạt tù mà người phạm tội mua bán, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người gây chết người sẽ được xem xét xóa án tích theo quy định của Điều 70.

 

4. Hoàn thiện chế tài xử phạt với việc mua bán, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người

Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 gồm 06 chương, 40 điều được xây dựng trên quan điểm vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học, không vì mục đích thương mại và phù hợp với quy định của Hiến pháp, quá trình hội nhập quốc tế của nước ta. Sự ra đời của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết đã tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện các hoạt động hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác ở nước ta. Để thực hiện tốt hoạt động này, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 56/2008/NĐ-CP ngày 29/4/2008 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của ngân hàng mô và Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.

Dưới góc độ pháp lý, tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người được quy định tại Điều 154 của Bộ luật Hình sự 2015 đặt ra một khung hình phạt để hỗ trợ các cơ quan thực thi pháp luật trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm này. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả hơn, thì cần giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất, đầu tiên về quy định này không chỉ rõ đối tượng tác động của tội phạm theo Điều 154 là "mô" mà còn bổ sung thêm "thai nhi" để bảo vệ sự hình thành của sinh mệnh và duy trì các chuẩn mực đạo đức trong xã hội.

Ngoài ra, cũng cần bổ sung hành vi môi giới mua bán vào tội phạm theo Điều 154 của Bộ luật Hình sự. Điều này nhằm đảm bảo nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, nhấn mạnh vai trò quan trọng của các đối tượng môi giới, đó là liên kết giữa người mua và người bán. Quy định này sẽ cung cấp một cơ sở pháp lý chặt chẽ hơn để xử lý hành vi nguy hiểm này.

Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi đưa ra về vấn đề này, quý khách có thể tham khảo thêm bài viết liên quan cùng chủ đề của Luật Minh Khuê như: Quy định về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Nếu quý khách có nhu cầu cần tư vấn pháp luật liên quan thì hãy liên hệ với chúng tôi qua hotline 19006162 hoặc email lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng./.