1. Chính sách pháp luật và hoạt động pháp luật

Việc phân biệt phạm trù "chính sách pháp luật" với phạm trù "hoạt động pháp luật" là rất phức tạp, bởi lẽ, cả hai phạm trù đó đều là các loại hoạt động đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật nói riêng và trong xã hội nói chung.

Hoạt động pháp luật là một loại hoạt động xã hội, do vậy, nó có tất cả các dấu hiệu của hoạt động xã hội. Mọi hoạt động xã hội đều được hiểu là sự tác động có tính hướng đích của chủ thê’ đối vói khách thể. Mọi hoạt động đều hướng đến việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó. Nội dung của hoạt động pháp luật được quyết định bởi đặc trung của khách thể tác động. Pháp luật và điều chỉnh pháp luật là khách thể của hoạt động pháp luật. Hoạt động pháp luật do các chủ thể có các quyền chủ thể và các nghĩa vụ pháp lý thực hiện dưới những hình thức khác nhau (hình thức chủ động và hình thức bị động). Hoạt động pháp luật là hoạt động hợp pháp, có ý nghĩa về mặt xã hội.

Như vậy, có thể hiểu hoạt động pháp luật là hoạt động họp pháp do các chủ thể có các quyền chủ thê’ và các nghĩa vụ pháp lý thực hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhằm duy trì và hoàn thiện cơ chế pháp lý của điều chỉnh pháp luật, thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích đa dạng của họ.

Đồng thời, cùng với hoạt động pháp luật, trong lý luận nhà nước và pháp luật cũng đưa ra phạm trù hoạt động pháp lý. Do đó, trước khi xem xét mối tương quan của chính sách pháp luật với hoạt động pháp luật cần phân biệt phạm trù hoạt động pháp luật với phạm trù hoạt động pháp lý.

Khi so sánh hoạt động pháp luật với hoạt động pháp lý cần hiểu rằng, hoạt động pháp lý chỉ được hiểu là hoạt động lao động, quản lý, quyền lực nhà nước được trung chuyển bằng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền và của những người có chức vụ, quyền hạn nhằm thực hiện những nhiệm vụ và chức năng xã hội để làm thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích của xã hội, của nhóm xã hội và của cá nhân. Nói cách khác, hoạt động pháp luật theo dưng lượng của mình rộng hơn hoạt động pháp ỉý. bao quát cả hoạt động pháp lý với tư cách là một bộ phận hợp thành của mình.

Với tư cách là phạm trù rộng lớn, hoạt động pháp luật gắn liền với các định hướng sau đây: thứ nhất, với việc soạn thảo và đưa các quy phạm pháp luật vào thực tiễn đời sống xã hội; thứ hai, với các phương thức thực hiện khác nhau các quy phạm pháp luật trong tiến trình thể hiện chúng trong các quan hệ xã hội hiện thực; thứ ha, với giáo dục và đào tạo pháp luật, với việc nâng cao văn hóa pháp luật của công dân và của xã hội; thứ tư, với các nghiên cứu pháp luật. Từ các định hướng nêu trên có thể thấy rằng, hoạt động pháp lý chỉ đề cập các định hướng cụ thê’ riêng của hoạt động pháp luật. Hơn nữa, từ góc độ cấu thành chủ thể, phạm trù "hoạt động pháp luật" rộng hơn phạm trù "hoạt động pháp lý", bởi vì, hoạt động pháp luật không chỉ bao gồm các hoạt động của các chủ thể công quyền thực hiện quyền lực nhà nước mà còn cả hoạt động của các pháp nhân và thể nhân được nhà nước bảo đảm và bảo vệ. Phạm trù "hoạt động pháp luật" là hoạt động cần thiết để phản ánh tất cả các hành vi được nhà nước và xã hội công nhận là đúng đắn, công bằng do bất kỳ chủ thể nào thực hiện. Còn hoạt động pháp lý chỉ được thực hiện trên cơ sở nghề nghiệp bởi các nhà luật học, bởi nó gắn liền với các nghiệp vụ chuyên môn về các hiện tượng pháp luật, đòi hỏi phải có những kỹ năng và hiểu biết chuyên môn.

Từ những điều trình bày trên có thể nhìn thấy rõ hơn mối tương quan của các phạm trù "chính sách pháp luật" và "hoạt động pháp luật".

2. Mối tương quan của phạm trù "chính sách pháp luật" và "hoạt động pháp luật"

Các phạm trù đó có điểm chung thể hiện ở chỗ, đó đều là các hoạt động gắn liền với pháp luật, được thực hiện trong phạm vi của đời sống pháp luật. Tuy vậy, đó không phải là những loại hoạt động trùng hợp với nhau.

Khác với hoạt động pháp luật, chính sách pháp luật không phải là hoạt động "pháp luật thuần túy" mà phần lớn là hoạt động chính sách mang tính chính trị. Do vậy, có thê gọi nó là hoạt động chính trị - pháp luật (chính sách - pháp luật). Nói cách khác, chính sách pháp luật không phải bao giò cũng được thực hiện dưới hình thức hoạt động pháp luật, và đến lượt mình, không phải bao giờ hoạt động pháp luật cũng gắn liền với chính sách.

Các chủ thê’ của chính sách pháp luật phần lớn không phải là chủ thể của pháp luật, mà là các chủ thể của chính bản thân chính sách (không phải bao giờ các chủ thể đó cũng hoạt động trong phạm vi của các quan hệ pháp luật) do chính hoạt động mà các chủ thể đó cần đưa vào cuộc sống. Xét theo khối lượng, các loại chủ thể đó không trùng hợp với nhau. Đến lượt mình, có các chủ thê’ của chính sách pháp luật đồng thời không phải là chủ thê’ của pháp luật, của hoạt động pháp luật được thực hiện trong phạm vi các quan hệ pháp luật. Ví dụ, các đảng phái, các ủy ban của Quốc hội (Nghị viện), các tập thê’ khoa học lâm thời tham gia tích cực vào sự hình thành và thực hiện chính sách pháp luật không phải là các chủ thê’ của pháp luật và của hoạt động pháp luật.

Nếu như khách thể của hoạt động pháp luật là các quan hệ xã hội, thì khách thê’ của chính sách pháp luật là đời sống pháp luật nói chung. Từ đây có thể coi hoạt động pháp luật là khách thê’ của chính sách pháp luật, và đến lượt mình, hoạt động pháp luật là bộ phận quan trọng nhất của sự phát triển pháp luật. Chính khi thừa nhận rằng, chính sách pháp luật có nhiệm vụ tối tru hóa các quá trình xây dụng pháp luật, thực hiện pháp luật, trong đó có áp dụng pháp luật, giáo dục và đào tạo pháp luật, quá trình xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật trong xã hội, thì cũng phải thừa nhận rằng, hoạt động pháp luật nằm chính trong lĩnh vực đó, bởi nó tồn tại dưới dạng hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật, hoạt động áp dụng pháp luật, hoạt động giáo dục và đào tạo pháp luật, hoạt động nghiên cứu pháp luật, hoạt động nâng cao ý thức pháp luật trong xã hội và các hình thức hoạt động thực hiện pháp luật khác, bao gồm việc ký kết hợp đồng, đăng ký kết hôn, trả tiền trọ cấp, V.V..

Nếu như các mục tiêu của hoạt động pháp luật thể hiện ở việc duy trì và hoàn thiện co chế pháp lý của điều chỉnh pháp luật, làm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của các chủ thể của nó, thì các mục tiêu của chính sách pháp luật rộng lớn hơn nhiều, chúng gắn liền với các giá trị pháp luật và các giá trị chính trị cao cả nhất - bảo đảm, bảo vệ đầy đủ nhất các quyền và tự do của con người và của công dân, xây dựng và phát triêh nhà nước pháp quyền, hình thành và xây dựng xã hội pháp quyền, xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật, đời sống pháp luật của xã hội và của cá nhân, hiện đại hóa hệ thống pháp luật, V.V..

Ở nghĩa đó, với tư cách là lĩnh vực gắn liền với việc hình thành và thực hiện các tư tưởng pháp luật mang tính chiến lược, trong mối quan hệ với hoạt động pháp luật, chính sách pháp luật là cơ sở tư tưởng - tổ chức, là nhân tố thống nhất hóa và là định hướng của hoạt động pháp luật.

Ngoài ra, hoạt động pháp luật trong các biểu hiện cụ thể của mình có thể được tách ra từ chính sách pháp luật chung. Cuối cùng, trong điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể, chính sách pháp luật nói chung có thể không tồn tại hoặc là được thể hiện không rõ, cho dù lúc đó hoạt động pháp luật vẫn tiếp tục được thực hiện. Có tình huống như vậy, về cơ bản, cho thấy có sự khủng hoảng trí tuệ - văn hóa của một xã hội nhất định.

Phạm trù "chính sách pháp luật" gắn liền chặt chẽ với phạm trù "hệ tư tưởng pháp luật". Hệ tư tưởng pháp luật được hiểu là hệ thống các quan điểm, học thuyết, lý luận, hệ quan niệm, quan niệm phản ánh thái độ của con người đối với pháp luật đang tồn tại và pháp luật mong muốn có được. Hệ tư tưởng pháp luật là sự phản ánh tập trung các thành tựu cơ bản trong lĩnh vực pháp luật và là hình thức pháp luật mong muốn có được trong tương lai, là mô hình ghi nhận giá trị đời sống pháp luật và các xu hướng phát triển cơ bản của nó.

Cho dù có những điểm tương đồng, nhưng chính sách pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật không phải là những khái niệm đồng nhất với nhau. Trong trường hợp này, ý nghĩa của hệ tư tưởng pháp luật thể hiện ở chỗ, nó không đơn giản chỉ là nguồn mà từ đó chính sách pháp luật khai thác, sử dụng những tư tưởng chủ yếu mà còn là nền tảng nằm chính trong chính sách pháp luật có giá trị. Ngoài ra, hệ tư tưởng pháp luật có nhiệm vụ hợp pháp hóa chính sách pháp luật, tạo ra những tiền đề, điều kiện để thực hiện nó khi giải thích các mục tiêu và nhiệm vụ của nó, thuyết phục về sự cần thiết và giá trị của nó.

Không được quy chính sách pháp luật chỉ về hệ tư tưởng pháp luật. Nếu ai đó chỉ muốn hiểu chính sách pháp luật, về thực chất, chỉ là hệ tư tưởng pháp luật, thì rõ ràng người đó đánh giá thấp chính sách pháp luật và đánh giá quá cao hệ tư tưởng pháp luật. Hệ tư tưởng pháp luật - đó là tổng thể các tư tưởng (hệ quan niệm, lý luận, học thuyết) về pháp luật và sự phát triển pháp luật, tạo điều kiện cho sự hình thành nên các tiêu chuẩn đánh giá và các giá trị pháp luật, cũng như cho việc soạn thảo các mục tiêu pháp luật nhất định của chủ thể ý thức pháp luật.

Chính sách pháp luật gắn liền chặt chẽ với các chức năng của Nhà nước. Các chức năng của Nhà nước được hiểu là những định hướng hoạt động đối nội và đối ngoại cơ bản, quan trọng nhất, mang tính thường xuyên, liên tục, ổn định tương đối của Nhà nước, thể hiện và cụ thể hóa bản chất, vai trò xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu, các nhiệm vụ được đặt ra đối vói Nhà nước. Rõ ràng rằng, với tư cách là những định hướng hoạt động cơ bản có phạm vi rộng lớn của Nhà nước, các chức năng của Nhà nước được đặt trong mối quan hệ vói chính sách pháp luật được thể hiện về cơ bản là những định hướng quyết định đối với chính sách pháp luật. Tuy vậy, chính sách pháp luật, đến lượt mình, cũng có thể tác động đến các chức năng của Nhà nước. Chẳng hạn, chính sách pháp luật có thể được sử dụng với tư cách là cái tương quan cần thiết của việc thực hiện các chức năng của Nhà nước trong các điều kiện lịch sử cụ thể này hay trong các điều kiện lịch sử cụ thể khác, làm cho các chức năng có cấu thành pháp luật cần thiết, tạo ra sự tác động pháp lý kèm theo.

3. Bàn luận về phạm trù chính sách pháp luật

Chính sách pháp luật là hoạt động có căn cứ khoa học, nhất quán và hệ thôhg của các cơ quan nhà nước và của các thiêỉ chế phi nhà nước để xây ãựng cơ chếđỉêu chỉnh pháp luật có hiệu quả, sử dụng văn minh các phương tiện pháp luật để đạt được mục tiêu bảo đảm, bảo vệ đây đủ nhất các quỳên và tự do của con người và của công dân, xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền, hình thành và xây dựng xã hội pháp quyền, xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật và đời sống phấp luật của xã hội và của cá nhân.

Khái niệm "chính sách pháp luật", xét theo nội dung, cũng là khái niệm gần gũi với "cải cách pháp luật", "đổi mới pháp luật". Cải cách, đổi mới - đó là sự cải tạo, sự thay đổi, sự cải tổ, sự đổi mới cái gì đó. Cải cách pháp luật, đổi mới pháp luật - đó là việc thực hiện những sự cải tạo pháp luật, sự thay đổi pháp luật, sự cải tổ pháp luật, sự đổi mới pháp luật có tính hướng đích mà kết quả của những sự cải tạo, sự thay đổi, sự cải tổ, sự đổi mới đó là sự hình thành dần dân hệ thống pháp luật mới hoặc là sự xuất hiện ở hệ thống pháp luật hiện hành những đặc tính, đặc điểm mới hoặc các dấu hiệu cơ bản mới. Cải cách pháp luật, đổi mới pháp luật không chỉ đề cập sự đa dạng các đặc điểm của nó mà còn đề cập toàn bộ hệ thống pháp luật nhiều cấp độ, nhiều lĩnh vực của nó, bao gồm tổ hợp chi tiết, cụ thể các cơ quan bảo vệ pháp luật, các chế định của văn hóa pháp luật, của giáo dục và đào tạo pháp luật, của nghiên cứu pháp luật.

Cải cách pháp luật, đổi mới pháp luật là sự thay đổi tổng thể và tiến bộ hệ thống pháp luật để đáp ứng các đòi hỏi hiện nay và hướng đến việc truyền thêm xung lực mới cho sự phát triển pháp luật.

Ở nước ta trong thời gian qua đã tiến hành các hoạt động cải cách, đổi mới pháp luật cụ thể. Đó là cải cách, đổi mới pháp luật hiến pháp, cải cách, đổi mới pháp luật trong lĩnh vực tư pháp, cải cách, đổi mới pháp luật kinh tế, cải cách, đổi mới pháp luật trong các lĩnh vực khác. Những cải cách, đổi mới pháp luật đó mới chỉ đạt được các mục tiêu cụ thê’ nhất định, chứ chưa đạt được các mục tiêu tổng thê’ cần đạt được.

Có nhiều nguyên nhân của tình trạng đó, trong đó có nguyên nhân thể hiện ở chỗ, những cải cách, đổi mới pháp luật cụ thể đó mói chỉ là các yếu tố của một hiện tượng rộng lớn hơn - cải cách, đổi mới pháp luật nói chung và được tiến hành chưa mang tính hệ thống, chỉnh thể, đồng bộ, thiếu một chính sách pháp luật tổng thê’ có giá trị đầy đủ.

Cải cách pháp luật, đổi mới pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối vói cải cách, đổi mới nói chung, tạo ra môi trường pháp luật cho cải cách, đổi mới nói chung và các lĩnh vực cải cách, đổi mới cụ thể nói riêng. Nhiệm vụ cấp bách hiện nay được đặt ra đối vói Nhà nước Việt Nam là xây dựng và thực hiện cuộc cải cách, đổi mới pháp luật có quy mô rộng lớn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Tuy nhiên, để cải cách pháp luật, đổi mới pháp luật được triển khai thực hiện có kết quả cần phải có hoạt động có cơ sở khoa học, nhất quán và hệ thống để tạo ra cơ sở, nền tảng cho cải cách, đổi mới đó. Nói cách khác, cần có chính sách pháp luật quốc gia tổng thể.

4. Điểm tương đồng chính sách pháp luật và cải cách pháp luật, đổi mới pháp luật

Theo như đã phân tích ở mục 3, giữa chính sách pháp luật và cải cách pháp luật, đổi mới pháp luật có nhiều điểm tương đồng.

Cả chính sách pháp luật, cải cách, đổi mới pháp luật đều nhằm hoàn thiện, cải tạo, phát triển lĩnh vực pháp luật sao cho phù hợp, đáp ứng tốt nhất các nhu cầu và lợi ích nhất định. Cả chính sách pháp luật và cải cách pháp luật, đổi mói pháp luật đều phải có hệ quan điểm nào đó, sự hiểu biết các nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, sự hiện có rõ ràng các công cụ để thực hiện cải cách, đổi mới đó, V.V..

Đồng thời, cải cách, đổi mới pháp luật chỉ là một yếu tố cấu thành (phương tiện, công cụ) của chính sách pháp luật. Nếu như chính sách pháp luật là người bạn đồng hành của đời sống pháp luật, thì cải cách, đổi mói pháp luật chỉ được thực hiện trong những giai đoạn đòi hỏi phải tiến hành một số cải tạo về chất và những cải tạo rất cơ bản trong lĩnh vực pháp luật. Thông thường, những giai đoạn như vậy đi cùng vói những cải cách, những đổi mói trong các lĩnh vực quan hệ xã hội khác (lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực xã hội, lĩnh vực văn hóa và các lĩnh vực khác).

Do đó, khác với các cuộc cải cách, các cuộc đổi mới pháp luật, chính sách pháp luật được thực hiện thường xuyên, liên tục, nó xác định tính chất, giới hạn, thời hạn, hiệu quả của các cuộc cải cách, các cuộc đổi mới pháp luật, tạo ra cơ sở, nền tảng nhất định cho các cuộc cải cách, đổi mới đó. Phạm trù "chính sách pháp luật" có ý nghĩa về mặt phương pháp luận và văn hóa xã hội chung của các cuộc cải cách, các cuộc đổi mới pháp luật của mọi quốc gia.

Như vậy, mối tương quan của phạm trù "chính sách pháp luật" với các phạm trù gần gũi khác chỉ rõ rằng, nó có những giới hạn, những phương diện, những yếu tố, những phần khác nhau của mình và những điều đó tách ra một cách rõ ràng những giới hạn trong nhận thức về hiện tượng "chính sách pháp luật", làm cho chúng ta có được quan niệm đầy đủ hơn về hiện tượng đó.

Đến lượt mình, việc đưa phạm trù "chính sách pháp luật" vào hệ thống các phạm trù khác của khoa học pháp lý sẽ tạo điều kiện cho việc nghiên cứu rộng lớn hơn tất cả các hiện tượng pháp luật trong xã hội và các yếu tố cụ thể của chúng thông qua lăng kính xã hội. Trên nền của hiện thực pháp luật có thể so sánh các mục tiêu của chính sách pháp luật được thực hiện trong đất nước với các nhu cầu và lợi ích của cá nhân, của nhóm xã hội, của xã hội; làm sáng tỏ được những văn bản quy phạm pháp luật nào có hiệu lực thực tế, có hiệu quả và những văn bản quy phạm pháp luật nào không có hiệu lực thực tế, không có hiệu quả và xác định được các nguyên nhân của tình trạng đó, định hướng được các cách thức giải quyết các vấn đề pháp luật. Nội dung của chính sách pháp luật với tư cách là một hiện tượng đa dạng, nhiều cấp độ, bao gồm chiến lược xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng Hiến pháp, cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, củng cố pháp chế, trật tự pháp luật, V.V..

5. Kết thúc vấn đề

Như vậy, phạm trù "chính sách pháp luật", theo nội dung, phản ánh hiện thực chính trị - pháp luật rất phong phú, giàu có: hoạt động thống nhất, nhất quán, hệ thống, được thiết kế một cách lôgic nhằm vận dụng những công cụ (kỹ thuật) và cấu trúc mói vào lĩnh vực pháp luật, đưa vào đời sống pháp luật tính xác định mang tính chiến lược lớn hơn và tính mềm dẻo mang tính chiến thuật. Những điều đó tạo ra những điều kiện để hoạt động như vậy có hiệu quả hơn trong giai đoạn đổi mới xã hội ở nước ta hiện nay.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).