1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách “Phương pháp, quy trình và kỹ thuật nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý" do PGS.TS. Đỗ Minh Khôi chủ biên.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Phương pháp, quy trình và kỹ thuật nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý

Phương pháp, quy trình và kỹ thuật nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý

Tác giả: PGS.TS. Đỗ Minh Khôi chủ biên

3. Tổng quan nội dung sách

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động trí tuệ cao, đòi hỏi phải nắm vững phương pháp luận và biết vận dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng bối cảnh và chủ đề mới có thể đạt kết quả tốt. Cho đến nay, đã có nhiều tài liệu nước ngoài viết về phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng nhưng tài liệu được viết bằng tiếng Việt về vấn đề này còn rất hạn chế. Cuốn sách “Phương pháp, quy trình và kỹ thuật nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý” cung cấp những kiến thức và kỹ năng nghiên cứu cơ bản giúp người mới nghiên cứu khoa học pháp lý theo dõi và thực hành hiệu quả.

Trong chương đầu tiên “Những vấn đề chung về nghiên cứu khoa học và khoa học pháp lý” giúp bạn đọc nắm rõ khái niệm nghiên cứu khoa học, loại hình nghiên cứu, đặc trưng của phương pháp nghiên cứu khoa học và khái quát về nghiên cứu khoa học pháp lý.

Chương tiếp theo, các tác giả tập trung phân tích bảy phương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học pháp lý gồm: phương pháp nghiên cứu lý thuyết luật học, nghiên cứu tình huống, nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu so sánh, nghiên cứu khảo sát, nghiên cứu đánh giá, nghiên cứu thực nghiệm. Không phân tích quá nhiều về lý thuyết, vị trí vai trò, ý nghĩa khoa học của từng phương pháp nghiên cứu mà các tác giả chỉ ra những đặc trưng cơ bản về đối tượng, phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu phù hợp ở mỗi phương pháp. Tôi tin chắc sau khi đọc xong nội dung chương 2 của cuốn sách bạn sẽ lựa chọn được phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu phù hợp với đối tượng nghiên cứu mà bạn hướng tới.

Chương 3 “Quy trình và kỹ thuật trong nghiên cứu cơ bản” hệ thống những kiến thức chung về quy trình, kỹ thuật nghiên cứu bao gồm các bước: chọn lĩnh vực nghiên cứu và xác định đề tài nghiên cứu, tổng quan tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu,… Bên cạnh phần lý thuyết, bạn đọc có thể thực hành các bước trong quy trình nghiên cứu bằng cách trả lời các câu hỏi, bài tập được đưa ra ở cuối mỗi phần. Với mục tiêu mang đến cho bạn đọc là người mới nghiên cứu, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành luật, nhóm tác giả đã đưa ra một số gợi ý, hướng dẫn trong việc viết luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ ngành luật trong chương cuối sách. Khi viết luận văn, luận án bạn cần chuẩn bị những gì? Cách viết ra sao? Làm việc với giáo viên hướng dẫn như thế nào? Kỹ năng để bảo vệ luận án, luận văn?

4. Đánh giá bạn đọc

Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý có thể hiểu đó là những phương pháp nghiên cứu khoa học được vận dụng vào hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý. Nói cách khác, đó chính là cách thức tiến hành các công việc nghiên cứu mà người làm công tác nghiên cứu cần phải thực hiện để thu thập được những bằng chứng, dữ liệu, tìm ra những phát hiện, những tri thức mới đáng tin cậy.

Với văn phong trình bày đơn giản, dễ hiểu cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người mới nghiên cứu, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành luật.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Phương pháp, quy trình và kỹ thuật nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số phương pháp nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý để bạn đọc tham khảo:

Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phân tích là phương pháp nhận thức về sự vật, hiện tượng bằng cách chia sự vật, hiện tượng (mang tính toàn thể hay tổng thể) thành những phần, những bộ phận, những chiều cạnh giản đơn hơn để nghiên cứu. Ví dụ, khi nghiên cứu về mô hình tổng thể bộ máy nhà nước Việt Nam, người làm nghiên cứu khoa học pháp lý thường chia nhỏ ra để nghiên cứu riêng về 4 bộ phận cơ bản: (1) cơ quan lập pháp, (2) cơ quan hành pháp, (3) cơ quan tư pháp, và (4) bộ máy chính quyền địa phương. Qua việc phân tích, làm rõ từng phần, từng bộ phận, tổng hợp lại kết quả, xâu chuỗi, xâu nối lại, ta có bức tranh tổng thể về bộ máy nhà nước. Phương pháp phân tích trong nghiên cứu khoa học chính là việc ứng dụng lối tư duy, chia việc khó thành nhiều việc dễ để thực hiện.

Tổng hợp là quá trình ngược lại của hoạt động phân tích. Tuy nhiên, về bản chất, tổng hợp là bước kế tiếp của phương pháp phân tích. Sau khi đã có tri thức riêng lẻ về từng mảnh, từng bộ phận, sự xâu nối, kết hợp các tri thức riêng lẻ thành kiến thức tổng thể chính là phương pháp tổng hợp trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng.
Chính vì vậy, có thể nói, phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổ sung cho nhau trong hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng.

Phương pháp mô hình hóa

Phương pháp mô hình hóa là một phương pháp khoa học để nghiên cứu các đối tượng, các quá trình … bằng cách xây dựng các mô hình của chúng (các mô hình này bảo toàn các tính chất cơ bản được trích ra của đối tượng đang nghiên cứu) và dựa trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng thực.
Cơ sở logic của phương pháp mô hình hóa là phép loại suy. Phương pháp mô hình hóa cho phép tiến hành nghiên cứu trên những mô hình (vật chất hay ý niệm (tư duy)) do người nghiên cứu tạo ra (lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn đối tượng thực) để thay thế việc nghiên cứu đối tượng thực. Điều này thường xảy ra khi người nghiên cứu không thể hoặc rất khó nghiên cứu đối tượng thực trong điều kiện thực tế.
Phương pháp mô hình hóa xem xét đối tượng nghiên cứu như một hệ thống (tổng thể), song tách ra từ hệ thống (đối tượng) các mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật có trong thực tế nghiên cứu, phản ánh được các mối quan hệ, liên hệ đó của các yếu tố cấu thành hệ thống – đó là sự trừu tượng hóa hệ thống thực.

Dùng phương pháp mô hình hóa giúp người nghiên cứu dự báo, dự đoán, đánh giá các tác động của các biện pháp điều khiển, quản lý hệ thống.Ví dụ: sử dụng phương pháp phân tích cấu trúc (đặc biệt là cấu trúc không gian, các bộ phận hợp thành có bản chất vật lý giống hệt đối tượng gốc) để phản ánh, suy ra cấu trúc của đối tượng gốc như: mô hình động cơ đốt trong, mô hình tế bào, sa bàn….

Phương pháp điều tra, khảo sát xã hội học

Trong thực tiễn nghiên cứu khoa học pháp lý hiện nay, đánh giá thực tiễn vận hành của pháp luật trong đời sống là chủ đề rất quan trọng. Công việc này có thể thực hiện bằng việc tham vấn ý kiến chuyên gia, những người đã nhiều năm theo dõi, quan sát về lĩnh vực mà người được giao nhiệm vụ nghiên cứu tìm hiểu. Tuy nhiên, kể cả việc tham vấn ý kiến chuyên gia như vậy cũng khó thu được thông tin đầy đủ và toàn diện. Chính vì thế, phương pháp điều tra, khảo sát xã hội học rất được coi trọng.

Việc điều tra, khảo sát xã hội học đòi hỏi rất nhiều yêu cầu, kỹ thuật để thực hiện. Điều trước tiên là phải xác định được phạm vi, nội dung, đối tượng điều tra, khảo sát. Đây chính là những người có được thông tin mà người nghiên cứu đang cần được tiếp cận. Chẳng hạn, nếu chúng ta được giao nhiệm vụ đánh giá thực tiễn thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010 bằng việc điều tra, khảo sát thực tiễn, khi xác định đối tượng điều tra, khảo sát phải bao gồm các nhóm đối tượng cơ bản sau đây:

- Cán bộ trực tiếp tổ chức thực thi Luật: cán bộ các cơ quan y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công thương ở các cấp.

- Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trực tiếp phải chấp hành Luật an toàn thực phẩm: ví dụ cơ sở thức ăn đường phố, nhà hàng v.v.

- Người dân với tư cách là người tiêu dùng thực phẩm.

Việc chọn địa bàn điều tra, khảo sát cũng rất quan trọng. Yêu cầu chính khi chọn địa bàn điều tra, khảo sát là phải xem địa bàn ấy có đối tượng được điều tra, khảo sát có nhiều thông tin cần thu thập hay không. Thêm vào đó, phải làm sao địa bàn được chọn mang tính đại diện cho cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, có đại diện của đô thị, nông thôn và miền núi (thậm chí là vùng biển, hải đảo). Ví dụ: khi điều tra, khảo sát về thực tiễn thi hành Luật an toàn thực phẩm, số tỉnh, thành phố được chọn làm địa bàn điều tra thường là 9 tỉnh để bảo đảm tính đại diện.

Việc xác định số lượng đối tượng được điều tra, khảo sát là rất cần thiết. Trước một thực tiễn, do đối tượng được điều tra, khảo sát có nhận thức khác nhau nên nếu số lượng đối tượng điều tra, khảo sát quá ít, kết quả điều tra, khảo sát sẽ khó bảo đảm được tính đại diện. Trong thực tiễn làm việc tại Viện Khoa học pháp lý, số lượng đối tượng được điều tra, khảo sát sẽ tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, với các cuộc điều tra, khảo sát có quy mô toàn quốc, số đối tượng được điều tra, khảo sát thường xoay quanh mức từ 3 tới 5 ngàn đối tượng.

Để thu thập được thông tin từ quá trình điều tra, khảo sát xã hội học, người làm công tác điều tra, khảo sát thường sử dụng 3 cách thức sau:

- Phỏng vấn đối tượng điều tra, khảo sát thông qua phiếu hỏi (phiếu thông thường hoặc phiếu phỏng vấn sâu).

- Tiến hành tọa đàm, trao đổi với các đối tượng được khảo sát.

- Thu thập số liệu thống kê, dữ liệu chính thống từ các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức có dữ liệu, số liệu.

Phương pháp luật học so sánh

Sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra điểm giống và khác của pháp luật giữa các quốc gia khác nhau chưa đủ để trở thành phương pháp luật học so sánh mặc dù phương pháp luật học so sánh thường sử dụng kỹ thuật so sánh, đối chiếu này.

Phương pháp luật học so sánh đòi hỏi nghiên cứu, giải thích sự phát sinh, phát triển, biến đổi của các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật, các thiết chế pháp luật trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử của quốc gia được chọn lựa để so sánh, từ đó hiểu rõ giá trị, vai trò, ý nghĩa của các quy phạm, chế định hoặc thiết chế đó. Trên cơ sở hiểu biết sâu sắc ấy, việc so sánh và phát hiện điểm giống và khác, cùng với sự giải thích căn nguyên của những sự giống và khác đó mới có ý nghĩa.

Ngoài ra, phương pháp luật học so sánh còn quan tâm tới hiện tượng tiếp nhận, lan tỏa, khuếch tán pháp luật nước ngoài (legal diffusion) hoặc cấy ghép pháp luật, khi các quốc gia có sự học hỏi, tham khảo lẫn nhau để hoàn thiện pháp luật của quốc gia mình.