1. Thế nào là tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội?
Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội theo Điều 368 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung 2017 là hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, do người có thẩm quyền điều tra, truy tố thực hiện một cách cố ý, xâm phạm sự hoạt động đúng đắn và uy tín của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân.
2. Thế nào là tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội ?
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội được quy định tại Điều 369 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 được hiểu là hành vi của người tiến hành tố tụng có thẩm quyền mặc dù đã có đủ căn cứ và biết rõ một người đã có hành vi phạm tội nhưng không tiến hành khởi tố, truy tố hoặc xét xử buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đó.
Người có tội là thuật ngữ được nhắc đến trong luật hình sự, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội là trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ các quan hệ xã hội.
Không truy cứu trách nhiệm hình sự là việc chủ thể có thẩm quyền không tiến hành các hoạt động buộc tội và áp dụng hình phạt đối với người thực hiện các hành vi cấu thành tội phạm theo Bộ luật hình sự.
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có thẩm quyền không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội.
3. Phân biệt tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội?
| Nội dung | Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội | Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội |
| Căn cứ pháp lý | Điều 368 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 | Điều 369 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 |
| Khách thể | Khách thể của tội phạm là danh dự của người bị oan và uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng. | Khách thể của tội phạm là uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng; bỏ lọt tội phạm và các lợi ích của Nhà nước, xã hội và của công dân. |
| Mặt khách quan | Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi của có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội. Người phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, có thể thực hiện một trong các hành vi sau: Ra quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra, quyết định truy tố đối với người không có tội. Phạm vi xác định hành vi khách quan của tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội được giới hạn bởi hành vi ra các quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố, quyết định truy tố (bản cáo trạng) của Viện kiểm sát đối với người không có tội. Tuy nhiên, để xác định hành vi khách quan thì cũng cần xác định hành vi khác có liên quan đến hành vi khách quan như: - Sau khi khởi tố bị can và trong quá trình hoạt động tố tụng người tiến hành tố tụng còn có những hành vi khác xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người không có tội như: ra lệnh tạm giam, gia hạn tạm giam, kê biên tài sản, phong toả tài khoản, thu giữ đồ vật…nhưng các hành vi này không phải là hành vi khách quan của cấu thành tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội mà đó chỉ là những thủ đoạn để phục vụ cho hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội. - Trường hợp chưa khởi tố bị can mà người có thẩm quyền mới ra quyết định khởi tố vụ án thì chưa coi là hành vi phạm tội vì quyết định khởi tố vụ án chưa xác lập đối với một con người cụ thể mà mới chỉ xác lập một tội phạm tồn tại. Thông thường người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và liền sau đó ra quyết định khởi tố bị can (trong những trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người trong trường hợp khẩn cấp), nhưng không ít trường hợp sau khi khởi tố vụ án (xác định có sự việc phạm tội) nhưng vì chưa biết ai là người thực hiện hành vi phạm tội nên chưa quyết định khởi tố bị can. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Tuy nhiên, nếu hậu quả xảy ra thì tuỳ trường hợp, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật. Hậu quả do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự của người bị oan; làm mất uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng mà trực tiếp là cơ quan mà người phạm tội công tác; những thiệt hại về vật chất do phải minh oan, xin lỗi, bồi thường thiệt hại cho người bị oan và những thiệt hại khác cho xã hội. | Hành vi thuốc mặt chủ quan của tội phạm là hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội. Trong các hành vi của người tiến hành tố tụng, có thể có hành vi chỉ là hành vi vi phạm tố tụng, nhưng nếu các hành vi đó đều nhằm mục đích để lọt người phạm tội hoặc để lọt tội phạm thì người tiến hành tố tụng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Tuy nhiên, nếu hậu quả xảy ra thì tuỳ trường hợp, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật. Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm có hành vi kể trên xảy ra. |
| Chủ thể | Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có thẩm quyền trong việc khởi tố bị can, kết luận điều tra, truy tố, mới là chủ thể của tội phạm này. Những người có thẩm quyền trong việc khởi tố bị can, kết luận điều tra, truy tố, bao gồm: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên. Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều điện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. | |
| Mặt chủ quan | Người phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Điều luật quy định “biết rõ là không có tội” tức là, người phạm tội phải biết rõ người mà mình truy cứu trách nhiệm hình sự là không có tội; nếu do trình độ nghiệp vụ non kém hoặc vì lý do khách quan khác mà người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự một người mà không biết rõ không có tội thì không phạm tội này. | Người phạm tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của người mà mình không truy cứu là hành vi phạm tội, nhưng cố tình không truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều luật quy định “biết rõ là có tội” tức là, người phạm tội phải biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là có tội; nếu vì lý do khách quan hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém mà người có thẩm quyền không biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là có tội, thì cũng không phạm tội này. |
Tham khảo: Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội đi tù mấy năm?
Nếu có vấn đề pháp lý liên quan vui lòng liên hệ Luật Minh Khuê sẽ giải đáp thắc mắc nhanh chóng qua tổng đài 1900.6162 hoặc qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng./.