1. Mở bài

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Phạm ngũ lão là tướng đời Trần, tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Nguyên, "đánh đâu thắng đó". Ông lo việc binh, đồng thời lại thích đọc sách, ngâm thơ. Cũng như nhiều danh tướng đời Trần, Phạm ngũ lão vừa cầm quân đánh giặc vừa viết những áng văn thơ để lại cho muôn đời sau. Trong đó nổi tiếng nhất là bài Thuật hoài. Đọc bài thơ này, chúng ta dường như đã cảm nhận được vẻ đẹp hùng dũng cao cả của người trai thời Trần. 

 

2. Thân bài

Cũng như Cảm hoài, Ngôn hoài, Thuật hoài làm một bài thơ trữ tình "ngôn chí" khá phổ biến trong thơ ca trung đại, để bày tỏ những ý nghĩ, những tình cảm lớn của tác giả. Thuật hoài có nghĩa là Tỏ lòng. Đến nay chúng ta chưa nắm được đích xác hoàn cảnh sáng tác của bài thơ, Tuy nhiên nếu dựa vào nội dung của tác phẩm có thể khẳng định bài thơ này ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân đời Trần, khi lực lượng của Đại Việt đã lớn mạnh nhưng trong chiến đấu chống giặc Nguyên - Mông chưa đi đến thắng lợi cuối cùng.

Bài thơ viết theo thể thơ tứ tuyệt luật Đường, bốn câu trong đó mỗi câu có 7 âm tiết. Hai câu đầu được dịch là: 

Múa giáo non sông trải mấy thâu

Ba quân hùng khí át sao Ngưu

Trong nguyên bản hai câu này là:

Hoành sóc giang san cáp kỷ thu

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu

"Hoành sóc" được dịch thành "múa giáo" dễ làm cho người đọc hiểu không hoàn toàn đúng. "Hoành sóc" tức là cầm ngang ngọn giáo, cả câu có nghĩa là "cắt ngang ngọn giáo bảo vệ non sông đã mấy mùa thu". Chỉ cần 7 chữ nhưng câu thơ trên đây đã gợi được hình ảnh của người trai đời Trần và cũng chính là của Phạm ngũ lão với tư thế hùng dũng, luôn kiên cường và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc, lập nên những chiến công hiển hách. Dẫu họ đã ngoan cường chiến đấu bao năm tháng nhưng vẫn bừng bừng một khí thế, một sức mạnh hiên ngang bất khuất. Hình ảnh người tráng sĩ càng trở nên chói lọi bởi hùng khí của ba quân. Ba quân chính là hình ảnh của cả thế hệ Phạm Ngũ Lão, của cả dân tộc đang sống trong hào khí Đông A. Sức mạnh của ba Quân còn được ví như sức mạnh ghê gớm của hổ báo, làm át cả sao Ngưu. Như vậy câu thơ thứ nhất đã nói về cá nhân người trai đời Trần, câu thơ thứ hai nói về dân, tộc về cộng đồng. Cá nhân có vẻ đẹp thiên nhiên của đất trời, sông núi, vượt qua mọi thử thách của thời gian, dân tộc có tầm vóc và sức mạnh của vũ trụ. Cá nhân với cộng đồng, tộc có quan hệ mật thiết và hài hòa. Hình ảnh người tráng sĩ oai hùng tạo nên khí thế ngất trời của ba quân, đồng thời khí thế của ba quân lại làm cho hình ảnh người tráng sĩ thêm lộng lẫy. Mỗi con người đều tìm thấy bóng dáng mình trong hào khí chung của dân tộc. Đây là một thời đại cao đẹp của những con người cao đẹp!

Như vậy chỉ bằng hai câu thơ, Phạm Ngũ lão đã phác họa thành công tư thế của nhân vật trữ tình - chàng trai đời Trần và tư thế của dân tộc ta trong một thời điểm lịch sử với một tầm vóc lớn và một quyết tâm lớn. Nhân vật trữ tình ở đây mang vẻ đẹp sử thi, tầm vóc sử thi. Phạm Ngũ lão không chỉ phát ngôn nhân danh cá nhân của mình mà ông còn nhân danh cả dân tộc và thời đại.

Hình ảnh người tráng sĩ cắp giáp tung hoành nơi trận mạc, hình ảnh ba quân khí thế ngất trời ta đã được gặp nhiều trong văn học trung đại của cả Việt Nam cũng như của Trung Quốc. Chàng chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn cũng từng: " Múa gươm rượu tiễn chưa tàn - Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo". Nói về tướng sĩ trong bài Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, Lê Thánh Tông cũng có câu: "miệng thòm thèm giương dạ nuốt trâu - Chí hăm hở dang tay bắt vượn". Song, nếu ở những câu vừa dẫn là hình ảnh ước lệ nặng tính chất ngao du, khoa trương thì trong bài thơ của Phạm Ngũ Lão là những hình ảnh tuy cũng thật kỳ vĩ nhưng lại vô cùng chân thực và hiện thực bởi người đọc biết rằng chúng ta đều sống trong không khí quyết chiến, quyết thắng của nhân dân ta đời Trần. Tại hội nghị Bình Than, các bô lão Đại Việt đã nhất tề thể hiện tinh thần ấy. Và mỗi binh sĩ thời ấy đều thích hai chữ: "Sát Thát" (giết giặc Nguyên) vào cánh tay. 

Tiếp nối một cách tự nhiên mạch cảm xúc ở hai câu đầu, hai câu sau thể hiện khát vọng lập được nhiều chiến công to lớn vì đất nước của vị tướng - thi sĩ:

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu

Người con trai đầu trần không chỉ cao đẹp ở tư thế sẵn sàng chiến đấu mà còn cao đẹp bởi có một quan niệm nhân sinh tích cực. Lập công chính là làm nên sự nghiệp lớn trong công cuộc bảo vệ và dựng nước. Có công thì mới được ghi danh. Mỗi con người chân chính, đặc biệt đối với những người làm trai, niềm khao khát làm nên sự nghiệp, lưu lại tên tuổi mình cho hậu thế muôn đời là niềm khao khát chính đây chính là một nguồn động lực to lớn để không ít người có sức mạnh vượt qua những thử thách, cam gom mà lập nên những kỳ tích vang dội, thúc đẩy sự tiến bộ của toàn xã hội. chính vì thế mà sau Phạm Ngũ Lão 6 thế kỷ, Nguyễn Công Trứ cũng đã khẳng định: 

Làm trai sống ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

Và không hiểu tự thuở nào mà cha ông ta vẫn thường khích lệ cháu con: "Làm trai cho đáng nên trai - Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên". Đây chắc chắn không phải là thói ham ranh phàm tục, trái lại là một quan niệm nhân sinh tiến bộ trong truyền thống dân tộc. 

Ở đây, cái hay không chỉ ở nội dung toác ra từ câu thơ của Phạm Ngũ Lão, mà còn chính ở con người tác giả. Tao đều biết rằng, viên tướng làng Phù Ủng này là người công danh lừng lẫy, đánh đông dẹp bắc, tham gia cả hai cuộc chiến chống quân Nguyên, cho đến khi tuổi đã cao ông vẫn còn hăng hái cầm quân đánh giặc nơi biên giới phía Tây tổ quốc và được phong chức Điện úy thượng tướng quân, được ban tước Quan nội hầu. Thế nhưng Phạm Ngũ Lão vẫn cảm thấy mình còn vương nợ với đời, còn phải hổ thẹn khi nghe chuyện Khổng Minh Gia Cát Lượng - một nhân vật siêu việt, có công lớn giúp Lưu Bị thời Tam Quốc chia ba thiên hạ. Điều này cũng đủ để thể hiện khát vọng và nhân cách của tác giả cao cả bên nhường nào. Phải chăng chính vì ý thức được món nợ cho trả xong đối với dân tộc, đối với đất nước, chính vì biết thẹn trước những nhân vật lừng lẫy trong sử sách đã tạo nên tầm vóc tuyệt vời của nhà thơ - chàng trai đời Trần, người anh hùng Phạm Ngũ Lão với những chiến tích vang dội và với bài Thuật hoài bất hủ này. 

 

3. Kết bài

Có thể nói, Thuật hoài là lời bày tỏ với bạn bè, với hậu thế và trước hết là tự nói với mình về ý thức trách nhiệm đối với tổ quốc của tác giả. Qua đó là tình cảm và khí phách của người anh hùng thời Trần - những người đã làm sáng danh đất nước một thời. Đương nhiên không thể phủ nhận rằng chủ nghĩa anh hùng của Phạm Ngũ Lão là chủ nghĩa anh hùng thời phong kiến nên chắc chắn sẽ có mặt hạn chế. Sông có một điều cũng rất chắc chắn, đó là bài thơ của Phạm Ngũ Lão không thấy bóng dáng những điều nhằm tự đề cao cá nhân hoặc ban ơn cho quần chúng. Ra đời cách chúng ta đã 7 thế kỷ, xong tác phẩm Thuật hoài vẫn luôn luôn mới mẻ và hấp dẫn, nay động con tim của biết bao thế hệ người đọc. Bởi vì qua bài thơ, dường như độc giả đã được bắt gặp hình ảnh vừa chân thực, vừa hoành tráng của người trai thời Trần, với vẻ đẹp thật là cao cả và hùng vĩ biết nhường nào.

Trên đây là bài phân tích tác phẩm Thuật hoài của người anh hùng Phạm Ngũ Lão mà luật Minh Khuê muốn cung cấp tới bạn đọc. Hi vọng bài viết này đã mang đến cho bạn những kiến thức bổ ích. Xin chân thành cảm ơn!