1. Hào khí Đông A là gì?
Hào khí Đông A là cách gọi cho hùng khí thời nhà Trần, chữ (bộ) Đông và chữ (bộ) A ghép lại trong tiếng Hán sẽ được chữ Trần.
Hào khí Đông A thể hiện khí thế sục sôi quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược, khí thế nhiệt huyết trong niềm vui chiến thắng (ba lần chống quân Nguyên - Mông). Hào khí Đông thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc và khát vọng lập chiến công hiển hách báo ơn vua, đền nợ nước.
2. Phân tích Hào khí Đông A trong bài Tỏ Lòng
a. Hai câu đầu
Nội dung của hai câu đầu vẽ lên chân dung hình ảnh người anh hùng đời Trần lồng trong hình ảnh ba quân với khí mạnh như hổ báo nuốt trôi trâu.
Câu thứ nhất
- Nghệ thuật: Chấm phá (chỉ gợi mà không tả)
- Nội dung: Hình ảnh 1 tráng sĩ cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ đất nước (Cây giáo đó như phải đo bằng chiều ngang của con sông)
- Không gian: rộng lớn
- Thời gian: dài mấy thu.
- Tôn hình ảnh tráng sĩ hiên ngang, kỳ vĩ, mang tầm vóc vũ trụ kỳ vĩ như át cả không gian bát ngát.
Câu thứ 2:
- Hình ảnh ba quân: Chỉ quân sĩ, quân đội nhà Trần
- Nghệ thuật: So sánh sức mạnh của ba quân, phóng đại tượng trưng cho 1 dân tộc
- Nội dung: Vừa cụ thể hóa sức mạnh vật chất, vừa hướng tới sự khái quát hóa sức mạnh tinh thần của toàn quân
- Từ vẻ đẹp kiêu hùng kỳ vĩ của 1 người đã chuyển sang vẻ đẹp của 1 đoàn quân đông đảo, mạnh mẽ, (1 vị đại tướng chỉ đạo 1 đoàn quân)
Quân là hình tượng kết hợp tổng thể, biểu trưng cho vẻ đẹp của sức mạnh & khí thế của Hào khí Đông A.
Tóm lại: Vẻ đẹp hào hùng của con người - quân dân nhà Trần - Hào khí Đông A
b. Hai câu sau:
Nội dung hai câu sau thể hiện một nỗi thẹn lớn lao cao cả, bộc lộ nhân cách cao đẹp của người anh hùng đời Trần.
Câu thứ ba:
- Chí làm trai:
+ Lập công (để lại sự nghiệp)
+ Lập danh (để lại tiếng thơm)
- Quan niệm này đã trở thành lý tưởng sống của các trang Nam nhi thời phong kiến – sau này Nguyễn Công Trứ kết luận: "Đã mang tiếng đứng trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông".
- Xuất phát từ quan điểm đó mà Phạm Ngũ Lão đã cùng dân tộc chiến đấu chống xâm lược bền bỉ - công danh được coi là món nợ đời phải trả của kẻ làm trai chí này có nội dung tích cực và có tác dụng to lớn ở thời ấy.
- Cổ vũ động viên mọi người, từ bỏ lối sống tầm thường , nhỏ mọn…
Câu thứ 4:
Cái “Tâm” thể hiện qua nỗi thẹn (xấu hổ) vì mình chưa có tài mưu lược lớn, chưa trừ được giặc, cứu được nước – Cái thẹn cao cả làm nên nhân cách
Tóm lại: Vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách, lý tưởng của tác giả (Cái chí và cái Tâm của Phạm Ngũ Lão)
Tổng kết.
- Nghệ thuật: Ngắn gọn, xúc tích, gợi nhiều hơn tả
- Nội dung:
+ Thể hiện hào khí của thời đại
+ Vẻ đẹp của con người có sức mạnh, lý tưởng nhân cách.
3. Bài văn mẫu phân tích Hào khí Đông A trong bài Tỏ Lòng - “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão
Trong các triều đại phong kiến ở Việt Nam, triều đại để lại nhiều dấu ấn nhất có lẽ là triều Trần. Không những đạt được những thành tựu to lớn về mặt kinh tế, văn hóa mà thời Trần còn lừng lẫy sử sách với chiến thắng của ba lần chống quân Mông - Nguyên. Phải chăng chính những chiến thắng vang dội ấy đã tạo nên một hào khí vô cùng to lớn, mạnh mẽ, chỉ có ở thời Trần mà không phải bất kì một triều đại nào khác của Việt Nam – hào khí Đông A. Hào khí Đông A đã nghiễm nhiên trở thành niềm cảm hứng đi vào không ít tác phẩm thơ ca nổi tiếng vào thời ấy, trong đó có tác phẩm thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão. "Thuật hoài" (hay Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão mang cái hào khí hào hùng của thời đại Đông A - thời đại nhà Trần. Bài thơ toát lên vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang, với lý tưởng, nhân cách lớn. Ấy là vẻ đẹp của sức mạnh thời đại, khí thế hùng tráng.
Bài thơ Thuật hoài thể hiện rõ hào khí Đông A thời Trần. Hai câu thơ đầu là tiêu biểu cho sự thể hiện đó:
“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”
Bản dịch:
“Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”
Hai câu thơ đầu tiên là bức tranh chân dung của người anh hùng thời đại nhà Trần. “Hoành sóc giang sơn” có nghĩa là cầm ngang ngọn giáo để trấn giữ đất nước. Hình ảnh người anh hùng cầm ngang ngọn giáo chặn đường quân địch mang vẻ đẹp của vị tráng sĩ mang hào khí anh hùng đang giương ngang ngọn giáo bảo vệ quê hương. Bản dịch đề chữ “Múa giáo” có hơi khiên cưỡng do múa giáo là một tư thế động, chưa thể hiện được hết tính ngang tàng, oai nghiêm, tĩnh mà như động của bản chữ Hán: “Hoành sóc” (cầm ngang ngọn giáo). Cụm từ hoàn mỹ này thể hiện sự chắc chắn, hiên ngang, khí phách của người anh hùng chí lớn. “Giang sơn” là từ chỉ không gian rộng lớn. "Giang sơn" và người anh hùng cùng xuất hiện trong 1 câu thơ, tương phản đối lập với nhau bởi tính ước lệ trong thơ Đường luật: một bên rộng lớn bao la, một bên nhỏ bé mà bất khuất. Sự tương phản này đã nhấn mạnh vẻ đẹp của hình tượng người tráng sĩ. “Kháp kỉ thu”: nghĩa là thời gian đã qua mấy thu. Sự vô tận của không gian thời gian đã làm nổi bật lên hình tượng người anh hùng với sự dẻo dai, ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc dù trải qua bao thu. Âm điệu thơ khỏe khoắn, vang vọng hào khí Đông A càng làm khí thơ trở nên hào hùng, cường tráng. Câu thơ đầu tiên đã toát lên vẻ đẹp của người anh hùng hiên ngang, luôn trong tư thế cầm giáo sẵn sàng bảo vệ quê hương.
Câu thơ thứ hai vẽ lên hình ảnh đoàn quân nhà Trần với khí thế át người: Hình ảnh đoàn quân hiện lên thật tráng lệ, hào hùng. Đến câu thứ hai, hình ảnh thơ ở đây được mở rộng ra. Nếu như câu thơ thứ nhất chỉ có người anh hùng thì ở dưới câu thơ thứ hai là hình ảnh của đoàn quân “tam quân” đông đúc. Ba quân ở đây chính là 3 nhánh quân: tiền quân, trung quân, hậu quân của nhà Trần. Phép so sánh “tam quân tì hổ” thể hiện sức mạnh to lớn, ví như mãnh hổ chốn rừng xanh của ba quân nhà Trần thời ấy. Hình ảnh ước lệ “khí thôn ngưu” tượng trưng cho khí thế mạnh mẽ, hùng dũng có thể “nuốt trôi trâu” của đoàn quân. Hoặc có thể hiểu khí thế ấy át cả sao Ngưu trên trời. Khái quát hình ảnh của những chiến binh nhà Trần khi xung trận với khí thế ngút trời, sức mạnh to lớn. Chính bởi đồng lòng cho nên ba quân của nhà Trần mạnh mẽ như hổ báo, khí thế át cả sao Ngưu trên trời. Có thể nói, hai câu thơ đầu đã thành công trong việc thể hiện sự hào hùng, bất khuất của quân đội nhà Trần. Đó chính là sự thể hiện của hào khí Đông A.
Nếu hai câu thơ đầu, nhà thơ thể hiện hào khí Đông A của một thời đại đầy hào hùng thì đến hai câu thơ cuối nhà thơ bày tỏ nỗi “thẹn” của mình:
“Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”
Bản dịch:
“Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”
Hai câu cuối bài thơ, Phạm Ngũ Lão đã thể hiện khát vọng lập công danh, báo đền Tổ quốc của một đấng nam nhi chân chính thời Trần. Ý chí của người con thời Trần thời bấy giờ là phải lập được công danh mới xứng đáng, mới thỏa chí làm trai. Chỉ có như thế mới xứng đáng là phận nam tri đầu đội trời chân đạp đất. Ý chí này ảnh hưởng từ quan điểm Nho giáo: Thân là nam nhi, phải lập được công danh để xứng đáng với cái chí lớn ở đời. Phạm Ngũ Lão, một vị tướng tài ba của nhà Trần, đã dành cả đời cống hiến cho sự nghiệp binh nghiệp của nhà Trần nhưng chưa bao giờ ông cảm thấy đủ và thỏa mãn. Trong tâm tư của ông, lúc nào cũng mang nặng món nợ công danh với đất nước mà cảm thấy “thẹn” khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu. “Thẹn” ở đây là cái thẹn thùng của một cái tâm đầy trong sáng, tâm hồn nhiệt huyết, nhân cách cao cả, nâng tầm vị thế của ông. Hai câu thơ như lời tâm tình của tác giả, như muốn bộc bạch rằng cái nợ công danh của nhà thơ vẫn còn trong khi ông đã từng đánh nam dẹp bắc, chặn biết bao nhiêu con đường của giặc đi.
Qua đây ta có thể thấy rõ được hào khí Đông A thời nhà Trần và nỗi thẹn của người quân tử, người tướng quân hết lòng ra sinh vào tử vì vua vì nước. Có thể nói hào khí Đông A là cốt lõi tinh thần để làm nên ba lần chiến thắng giặc nguyên Mông. Bài thơ đã giúp người ta thấy được tấm lòng của vị tướng quân tài ba với đất nước mình. Dẫu có bao nhiêu chiến công hiển hách, Phạm Ngũ Lão vẫn thấy chưa đủ để phục vụ cho vua và cho đất nước. Bài thơ Tỏ lòng được Phạm Ngũ Lão viết theo thể Đường luật, với cách thể hiện vô cùng súc tích, ngắn gọn nhưng rất cô đọng, hàm súc. "Thuật hoài" toát lên cái hào khí oai thiêng của dân tộc từ một tâm hồn yêu nước sâu sắc. Mỗi khi đọc bài thơ, người con của dân tộc lại thêm một lần được tự hào về một triều đại hào hùng với hào khí bất diệt.
Trên đây là bài phân tích tham khảo về Hào khí Đông A trong bài thơ Tỏ Lòng. Mong rằng bài viết hữu ích cho quý độc giả.