1. Phân tích chi phí chức năng

Phân tích chi phí chức năng là khảo sát hàng năm bởi ủy ban Dự trữ Liên bang về chi phí dịch vụ ngân hàng, và mở ra cho các định chế ngân hàng trên cơ sở tụ nguyện. Phân tích chi phí chức năng, so sánh với tài sản khác thu nhập và các tỷ lệ chi phí, lú số đo phổ biến duy nhất của ch phí cung ứng các sản phẩm ngân hàng, như ký gửi, rút tiền và các hạng mục chuyển giao. Chi phí chức năng đo lường chi phí cung cấp từng hạng mục và sẵn sàng so sánh với những năm trước. Mặc dù hữu dụng, phân tích chi phí chức năng có một số thiếu sốt. Số người tham gia thường nhỏ và chi phí dựa trên số dư của sổ cái, bỏ qua các mục của bảng cân đối kế toán như mục tiền mặt (chi phiếu) trong quá trình thu. Như phân tích chi phí chức năng năm 1999 bao gồm tài sản và nợ của chính quyền tiểu bang, liên bang và địa phương tại Mỹ.

 

2. Chi phí đầu tư hàng năm là gì?

Chi phí đầu tư hàng năm (annual capital charge) là một phương án thẩm định dự án đầu tư sử dụng kỹ thuật chiết khấu và thừa nhận rằng việc sử dụng tư bản làm phát sinh chi phí về lãi suất và khấu hao. Để đi đến kết luận một dự án có chấp nhận được không, người ta phải xác định xem các khoản thu trong tương lai (tức đồng tiền mặt do dự án đem lại trong tương lai) có đủ để bù đắp chi phí lãi suất (chi phí về vốn) và chi phí khấu hao tài sản không. Phương án này đòi hỏi phải tính toán chi phí bình quân hàng năm hay mức khấu hao cộng lãi suất và so sánh với các khoản thu tiền mặt ròng hàng năm. Nếu các khoản thu tiền mặt ròng lớn hơn chi phí hàng năm, thì dự án có thể chấp nhận được. Do phương án chi phí đầu tư hàng năm tính cả chi phí khấu hao, nên toàn bộ vốn đầu tư đều được thu lại khi dự án kết thúc. Đối với một số dự án, phương án này đem lại kết quả giống như tiêu chuẩn giá trị hiện tại ròng và tiêu chuẩn tỷ suất hoàn vốn nội bộ.

 

3. Chi phí tồn kho (inventory cost) là gì?

Chi phí tồn kho là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu khi dự trữ thành phẩm và nguyên liệu để phục vụ khách hàng nhanh chóng và tránh những gián đoạn trong sản xuất do thiếu nguyên vật liệu. Nó bao gồm chi phí bảo quản, bảo hiểm, hư hao hàng hoá trong kho và lãi suất phải trả cho số vốn bị trói chặt vào hàng tồn kho. Những chi phí như vậy thường tỷ lệ thuận với giá trị hàng tồn kho. Khi muốn giảm các loại chi phí này, người ta buộc phải giữ hàng hoá tồn kho ở mức thấp. Mặt khác, doanh nghiệp còn phải chịu chi phí đặt hàng và vận chuyển hàng hoá, chẳng hạn liên hệ với nhà cung cấp, thực hiện các giao dịch kế toán, vân chuyển, bốc dỡ và kiểm tra hàng hoá. Một số khoản trong các chi phí này không thay đổi, cho dù mức đặt hàng là bao nhiêu.

Vì nhiều loại chi phí đặt hàng là chi phí cố định, cho nên để cắt giảm chúng, doanh nghiệp phải đặt hàng với khối lượng lớn cho một thời gian dài. Biện pháp này đem lại cho doanh nghiệp mối lợi là được chiết khấu do mua hàng với khối lượng lớn. Nhưng nếu đặt hàng cho khoảng thời gian dài, mức tồn kho và chi phí của nó sẽ cao. Vì vậy, các doanh nghiệp tìm cách cân đối giữa hai nhóm chi phí này để có mức chi phí tối thiểu cho hàng tồn kho. Hình 12 chỉ ra khối lượng đặt hàng tối ưu hay kinh tế nhất, cho phép tối thiểu hoá tổng chi phí tồn kho. Trong hình 12, chi phí đặt hàng và vận chuyển giảm khi khối lượng đặt hàng tăng và số lần đặt hàng giảm. Nhưng khi đặt hàng với số lượng lớn và số lần đặt hàng ít, mức tồn kho bình quân sẽ lớn và bởi vậy chi phí cũng cao hơn. Khối lượng đặt hàng tối ưu OB tương ứng với điểm thấp nhất của đường tổng chi phí tồn kho. Trong nhiều tình huống, người ta có thể sử dụng công thức toán để xác định lượng đặt hàng tối ưu.

 

4. Chi phí tính thuế công ty là gì?

Chi phí tính thuế công ty (allowance and expenses for Corporation tax) là những khoản chi phí được phép trừ khỏi doanh thu để tính thu nhập chịu thuế của một công ty. Chúng bao gồm cả những khoản chi phí khấu hao tài sản cố định được tính theo tỷ lệ khấu hao cho phép. Nhìn chung, tất cả các khoản chi phí có liên quan đến kinh doanh đều được coi là chi phí tính thuế công ty, còn những khoản chi phí không liên quan đến kinh doanh, trong đó có dịch vụ giải trí cho khách hàng, tặng phẩm, thuế đã nộp, chi phí tính thuế và tiền quyên góp cho các đảng phái chính trị, đều không được coi là chi phí tính thuế công ty. Cổ tức không được coi là chi phí tính thuế công ty, nhưng chi phí lãi suất được coi là chi phí tính thuế công ty. Có một số khoản doanh thu không phải chịu thuế, chẳng hạn cổ tức do các Công ty khác trả, doanh thu từ việc bán tài sản cố định.

 

5. Chi phí vốn; chi phí xây dựng cơ bản, chi phí tài sản cố định là gì ?

Chi phí vốn; chi phí xây dựng cơ bản, chi phí tài sản cố định (CAPITAL EXPENDITURES) là vốn được các công ty chi cho mua sắm máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng để hiện đại hóa và thay thế trang thiết bị cũ. Mức chi phí như thế thường tùy thuộc vào mức độ lạc quan của doanh nghiệp trong thời hạn gần và triển vọng ở phạm vi rộng. Chi phí Vốn này được căn cử vào các nhân tố như sự phát triển dân số, nhu cầu của khách hàng tăng và sức tiêu thụ các sản phẩm mới tăng cao vào những năm đầu. Những năm gần đây, Công ty American Telephone & Telegraph đã bao trùm tất cả các chương trình chi phí liên hiệp công ty khác bằng chi phí khổng lồ.

Capital spending by corporations for new plant and equipment and for modernizing and replacing obsolete facilities. The level of such expenditures usually depends upon the degree of business optimism in the near-term and long-range outlook. This capital spending takes into account such factors as growth of population, increased consumer demand, and expanded sales in new products in the years ahead. In recent years American Telephone & Telegraph has dwarfed all other corporate spending programs by a wide margin.

 

6. Phần bù, chi phí hợp đồng quyền chọn, tiền thường (PREMIUM) là gì?

Ngân hàng: Sự khuyến khích ngoài tiền mặt cho khách hàng khi mở một tài khoản tiết kiệm hay vay nợ.

Tài chính: Khoản chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa một trái phiếu và giá trên mệnh giá. Trái nghĩa là chiết khấu (DISCOUNT). Các trái phiếu được mua với phần bù sẽ được chiết khấu trên đời sống kỳ vọng của chúng nếu được mua theo giá chiết khấu, giá trị bút toán của chúng sẽ được tích lũy hay tàng dần đến mệnh giá từ ngày được mua.

Ngoại hối: Tình trạng trao đổi, được gọi là AGIO (Chênh lệch trao đổi), trong đó đồng xu bằng vàng hay bạc có giá trị trao đổi cao hơn tiền giấy có mệnh giá tương đương.

Bảo hiểm: Khoản thanh toán bảo hiểm hàng năm, nửa năm hay định kỳ nào khác.

Hợpp đồng quyền chọn: Giá phải trả bởi người mua hợp đồng quyền chọn.

 

7. Chi phí xử lý hậu quả là gì?

Chi phí xử lý hậu quả (abatement cost) là chi phí để xử lý những hậu quả như ô nhiễm, tắc nghẽn giao thông. Trong trường hợp ô nhiễm, đường chi phí nhìn chung có độ dốc dương với hệ số góc ngày càng tăng khi ô nhiễm được xử lý triệt để hơn. Nguyên nhân của tình hình này là chi phí cho việc làm sạch một phần môi trường bị ô nhiễm tương đối thấp, nhưng chi phí cho việc làm sạch đơn vị ô nhiễm cuối cùng cực kỳ cao. Chẳng hạn, nếu muốn giảm một phần ô nhiễm tiếng ổn, người ta chỉ cần lắp bộ giảm thanh cho động cơ xe máy. Nhưng nếu muốn tiếp tục giảm hơn nữa tiếng ồn của xe máy, người ta phải thiết kế lại động cơ, phải thay đổi toàn bộ đường xá.

8. Chi phí thực hiện, phí lưu kho, tồn trữ là gì?

Chi phí thực hiện, phí lưu kho, tồn trữ (CARRYING CHARGES) là phần phí tài chính trong tiền vay ngân hàng trang trải cho các chi phí của bên cho vay, trong việc lập hồ sơ khoản vay và chi phí thu nợ cộng với phấn chi phí cho nợ khó đòi.

Phí của nhà môi giới đối với khách hàng về tài khoản bảo chứng tài trợ cho chứng khoán được mua chịu.

Chi phí ngoài ngân quỹ, thường là tiền vay ngân hàng, cho việc lưu giữ chứng khoán tiền mặt' hay hàng hóa cho đến khi bán được hay giao hàng. Các chi phí thực hiện cũng có thể đề cập việc tồn kho, bảo hiểm và các chi phí khác.