Pháp luật hình sự Việt Nam không quy tội khách quan, tức là truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ trên Cơ sở hành vi mà không xét đến lỗi của họ. Một hành vi bị xem là tính có lỗi khi có đủ hai điều kiện:

(1) Hành vi trái pháp luật hình sự;

(2) Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác không trái pháp luật hình sự. 

>> Xem thêm: Mặt chủ quan của tội phạm là gì? Ví dụ về mặt chủ quan tội phạm

 

1. Điều kiện để xác định tính có lỗi

Để xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho xã hội có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó hay không, ta cần xác định tính có lỗi của tội phạm.

Khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội hội đủ hai điều kiện:

+ Không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả nâng điều khiển hành vi.

+ Đạt độ tuổi theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ví dụ: Lê Thị Mai (23 tuổi) là người bị mộng du, thường xuyên đi lang thang vào lúc giữa khuya, làm Lê Trọng Bình (chồng của Mai) rất lo lắng. Một hôm Bình được mọi người mách là để con dao dưới chiếu ở đầu giưòng nằm của Mai thì sẽ chữa được bệnh mộng du. Bình liền làm theo và để con dao bầu ở đầu giưòng chỗ nằm của Mai. Tôì hôm đó, Mai ngủ nhưng lại bị mộng du, Mai vổ được con dao ở đầu giường và múa võ trong lúc Bình còn đang ngủ say (vì tự tin vợ mình không mộng du nữa). Bất ngò, Mai đâm vào bụng Bình một phát, may Bình được cứu kịp thời nên Bình chỉ bị tổn thương cơ thể 31% sức khỏe. Trong tình huống này, do Mai thực hiện hành vi của mình một cách vô thức (đang mộng du) thì không thể cho rằng hành vi của Mai phạm lỗi cố ý hoặc vô ý được.

 

2. Các hình thức lỗi theo luật hình sự

Nội dung cơ bản của lỗi được hợp thành bồi hai yếu tố cơ bản là lý trí và ý chí. Sự kết hợp khác nhau giữa lý trí và ý chí tạo nên các hình thức lỗi khác nhau.

+ Lỗi Cố ý trực tiếp (Khoản 1 Điều 10 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

* Về lý trí: Người thực hiện hành vi nhân thức rõ tính chất nguy hiểm trong hành vi của mình, thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó.

* Về ý chí: Tuy nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi của mình nhưng người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra.

Ví dụ: Vì muốn giết Trần Quang Đính nên Cao Đại Hiệp đã bắt cóc Đính và trói lại, Hiệp cầm súng ngắn đã lên đạn dí vào ngực Đính và bóp cò dẫn đến Đính chết. Trong trường hợp này, Hiệp nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật hình sự ngán cấm, thấy được hậu quả nổ súng sẽgây ra cái chết cho Đính, và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

+ Lỗi cố ý gián tiếp (Khoản 2 Điều 10 Bộ luật Hình sự năm 2015)

Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội từ hành vi của mình, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

* Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hành vi đó có thể gây ra hâu quả nguy hiểm cho xã hội.

* Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn cho hậu quả xảy ra, nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả nguy hiểm xảy ra do chính hành vi của mình.

Ví dụ: Nguyễn Văn Khanh - chủ cơ sở kinh doanh cây cảnh, để phòng trộm, Khanh đã nối dây điện trần xung quanh hàng rào để bảo vệ cây cảnh và cứ đến 21h thì đóng cầu dao điện và 5 giờ sáng ngắt cầu dao điện. Nguyễn Văn Quang đi uốhg bia về khuya và đi vào phía hàng rào nhà Khanh để nôn và vệ sinh thì bị điện giật chết.

Như vậy, Nguyễn Văn Khanh mặc dù không muốn Quang chết nhưng Khanh hoàn toàn có thể nhận thức được hành vi mắc điện vào hàng rào để chống trộm của mình là có thể gây ra hậu quả chết người, nhưngKhanh vẫn chấp nhận hậu quả chết người nếu có người nào vào trộm cây cảnh.

+ Lỗi vô ý do quá tự tin (Khoản 1 Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015)

Lỗi vô ý do quá tự tin là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

* Về lý trí: Người phạm tội nhận thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội.

* Về ý chí: Người phạm tội không chấp nhận hậu quả tác hại cho xã hội: “nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được”. Người phạm tội thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra nguy hại cho xã hội nhưng tin rằng với khả năng, kinh nghiệm, với các biện pháp mình áp dụng, cách thức, phương tiện thực hiện, các điều kiện chủ quan, khách quan khác mà hậu quả tác hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được... nhưng hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra.

Ví dụ: Trong lúc đi săn, Lê Xuân Quý nhìn thấy con thú đứng cạnh một người đi nhặt củi, Quý tự tin vào tài nghệ bắn súng của mình có thể bắn trúng con thú nhưng không ngờ, khi Quý nổ súng con thú không chết mà lại bắn trúng người đi nhặt củi, hậu quả làm người đó chết tại chỗ.

Trong tình huống này, Quý nhận thức được việc ngắm bắn con thú nếu lạc đạn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng của người đang nhặt củi, nhưng Quý vẫn thực hiện vì tin vào tài bắn súng của mình, vì vậy, hành vi của Quý phạm lỗi vô ý vì quá tự tin.

Cũng trong ví dụ trên, nếu Quý viện cớ phạm lỗi vô ý vì quá tự tin nhưng nhằm mục đích chính là giết người nhặt củi với ý đồ trả thù thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người (Điều 123 - Bộ luật Hình sự năm 2015) với lỗi cố ý trực tiếp.

+ Lỗi vô ý do cẩu thả (Khoản 2 Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Lỗi vô ý do cẩu thả là trong trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trưổc được khả năng gây ra hậu quả đó mặc dù điều kiện khách quan buộc họ phải thấy trước hoặc có thể thấy trước hậu quả đó.

* Về lý trí: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội.

* Về ý chí: Người phạm tội khi thực hiện hành vi đáng ra “phải thấy trước và có thể thấy trước” hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra.

Ở hình thức lỗi này, người phạm tội không nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra. Có thể có hai trường hợp người phạm tội không thấy trước được hậu quả của hành vi:

Trường hợp thứ nhất, người phạm tội không nhận thức được khả nâng gây ra hậu quả từ hành vi của mình và cũng không nhân thức được hậu quả xảy ra.

Ví dụ: Bảo vệ ngủ quên dẫn đến tài sản của công ty bị mất trộm.

Trường hợp thứ hai, người phạm tội có thể nhận thức khả năng gây ra hậu quả từ hành vi của mình nhưng không nhận thức được hậu quả xảy ra.

Ví dụ: Một người băng ngang đường một cách vô thức (không nhìn trước, nhìn sau) làm cho hai xe chạy ngược chiều nhau vì tránh người này mà xảy ra tai nạn làm hai người lái xe tử vong.

Lỗi vô ý do cẩu thả còn được xác định với điều kiện là người phạm tội “phải thấy trước” và “có thể thấy trước” hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra. “Phải thấy trưổc” ở đây là quy định của pháp luật buộc họ khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đó bắt buộc phải thấy hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. “Có thể thấy trước” có thể hiểu là với độ tuổi, năng lực trách nhiệm pháp lý, trình độ ván hóa, khả năng chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, kiến thức xã hội,... của một người bình thường thì người thực hiện hành vi có thể thấy trước hậu quả của hành vi đó.

 

3. Một số trường hợp đặc biệt về lỗi

Trường hợp hỗn hợp lỗi là trường hợp trong cùng một cấu thành tội phạm có hai loại lỗi (cố ý và vô ý) đối với những tình tiết khách quan khác nhau.

Hỗn hợp lỗi chỉ xảy ra trong trường hợp có cấu thành tội phạm tăng nặng của các tội phạm cố ý với tình tiết định khung tăng nặng là hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015) có lỗi cố ý là làm tổn hại đến sức khỏe con người, nhưng trường hợp gây hậu quả chết người (Khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015) thì còn có thêm lỗi vô ý làm chết người.

“Hỗn hợp lỗi” khác với “lỗi hỗn hợp” ở chỗ:

Hôn hợp lỗi: Trong cùng một cấu thành tội phạm có hai loại lỗi (cố ý và vô ý) đối với những tình tiết khách quan khác nhau. Ví dụ: Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015) có lỗi cố ý làm hư hỏng tài sản, nếu phá hoại tài sản gây chết người (tình tiết định khung tãng nặng) thì có thêm lỗi vô ý làm chết người.

Lỗi hỗn hợp: Trường hợp có hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng đó là kết quả của nhiều bên có lỗi: Có lỗi của người phạm tội, người bị hại hoặc lỗi của người thứ ba. Ví dụ: Trong một vụ tai nạn giao thông có thể có lỗi bất cẩn của người gây thiệt hại và người bị hại, hoặc có một người nào đó gây chướng ngại.

+ Sự kiện bất ngờ (Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 2015)

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngò, tức là trường hợpkhông thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Một sự kiện xảy ra trên thực tế gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi đó không có mối liên hệ về lý trí, ý chí của người thực hiện hành vi. Họ không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, cũng như hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra và họ cũng “không bị buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó”. Ví dụ: Một người say rượu băng ra giữa đường và lao vào xe tải dẫn đến người say rượu tử vong.