1. Khách thể của tội phạm:

Tội phạm trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức thông qua việc sử dụng công cụ là mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện đỉện tử; xâm hại trật tự an toàn công cộng.

 

2. Mặt khách quan của tội phạm:

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử như một công cụ để thực hiện một trong các hành vi sau:

Thứ nhất, sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đê chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ, chủ tài khoản hoặc thanh toán dịch vụ, mua hàng hóa. Hành vi được thực hiện thông qua các thủ đoạn như trộm cắp, lừa đảo để có được thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của người khác, sau đó dùng thông tin đó để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản. Ví dụ: người phạm tội gửi email giả mạo, lừa đảo hoặc cài phần mềm gián điệp như phần mềm keylogger (ghi lại mọi thao tác của người dùng thẻ, tài khoản trên máy)... để có được thông tin, mật khẩu. Sau đó, sử dụng thông tin có được để chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ.

Thứ hai, làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán dongân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Thẻ ngân hàng giả là thẻ không do ngân hàng có thẩm quyền phát hành thẻ đó phát hành. Làm thẻ ngân hàng giả là việc cá nhân không có thẩm quyền sản xuất, phát hành thẻ ngân hàng nhưng sản xuất thẻ giống như thẻ ngân hàng (trong đó chứa đựng thông tin, dữ liệu như thẻ của ngân hàng phát hành).

Thủ đoạn phạm tội thường là người phạm tội mua thẻ nhựa trắng, mua hoặc đánh cắp thông tin thẻ, mật mã giao dịch. Sau đó dùng máy ghi thẻ để sản xuất thẻ giả, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ giả để chiếm đoạt tài sản của người khác. Hoặc dùng thẻ ngân hàng của nước ngoài đã hết hạn sử dụng vào nước khác để rút tiền...

Thứ ba, truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tô chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản. Đó là hành vi vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc các phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức nhằm chiếm đoạt tài sản (trực tiếp) của chủ thể đó.

Thứ tư, lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội đưa ra cácthông tin gian dối trong các lĩnh vực trên nhằm tạo niềm tin cho người chủ tài sản, người quản lý tài sản, làm họ tưởng là thật và mua, bán hoặc đầu tư vào lĩnh vực đó. Ví dụ: Người phạm tội tạo dựng một website để huy động vốn theo kiểu kinh doanh đa cấp, giả danh các tập đoàn tài chính toàn cầu, huy động vốn với lãi suất cao, sau đó chiếm đoạt tiền của người góp vốh hoặc bán hàng qua mạng nhưng không giao hàng hoặc giao hàng không đúng...

Thứ nâm, thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản. Đó là việc thiết lập, cung cấp dịch vụ viễn thông, internet nhưng không được phép hoặc không đúng giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp nhằm chiếm đoạt tài sản.

Các hành vi trên chỉ cấu thành tội này khi không thuộc trường hợp tội trộm cắp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 173 và Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

+ Tội phạm có cấu thành hình thức, tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội có một trong các hành vi trên nhằm chiếm đoạt tài sản, không kể đã chiếm đoạt được hay chưa.

>> Xem thêm: Tội phạm về vi tính là gì? Quy định về tội phạm về máy tính

 

3. Mặt chủ quan của tội phạm:

+ Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản củangười khác là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn thực hiện và mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác.

+ Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.

* Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định.

Theo tội danh này thì người từ đủ 14 tuổi trở lên đối với trường hợp phạm tội thuộc Khoản 3, 4 Điều 290 Bộ luật hình sự hoặc từ đủ 16 tuổi trở lên đối với trường hợp phạm tội thuộc Khoản 1, 2 Điều 290 Bộ luật hình sự.

 

4. Hình phạt:

Điều 290 Bộ luật hình sự quy định các khung hình phạt sau:

+ Khoản 1 quy định người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

* Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

* Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

* Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

* Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản;

* Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.

+ Khoản 2 quy định người phạm tội có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đối với các trường hợp:

* Có tổ chức;

* Phạm tội 02 lần trở lên;

* Có tính chất chuyên nghiệp;

* Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ;

* Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

* Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

* Tái phạm nguy hiểm.

+ Khoản 3 quy định người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với trường hợp:

* Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

* Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưổi 500.000.000 đồng;

* Số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ.

+ Khoản 4 quy định người phạm tội có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm đối với trường hợp:

* Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

* Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;

* Sô" lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên.

+ Khoản 5 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

>> Xem thêm: Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, Internet chiếm đoạt tài sản?