1. Dàn ý phân tích giá trị hiện thực của Vợ chồng A Phủ
1.1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung cần phân tích. Xem chi tiết tại: Mở bài Vợ chồng A Phủ hay nhất
1.2. Thân bài
1.2.1. Khái quát giá trị hiện thực
Giá trị hiện thực là bức tranh đời sống hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm của mình. Đó là bức tranh đời chân thực nhất được người nghệ sĩ cải biến đưa vào trang văn của mình, từ đó phản ánh lên những sự thực ở đời đến người đọc. Tùy vào ý đồ sáng tạo mà hiện tượng đó được đồng nhất với thực tại cuộc sống hoặc có sự khúc xạ ở những mức độ khác nhau.
1.2.2. Phân tích
1.2.2.1. Phản ánh chân thực bức tranh đời sống của người nông dân miền núi thấp cổ bé họng trước cách mạng tháng Tám bị áp bức, bóc lột, chà đạp tàn bạo thể hiện qua hai nhân vật Mị và A Phủ, cha của Mị và nhân vật khác.
- Bi kịch của Mị:
+ Món nợ truyền đời truyền kiếp của cha mẹ Mị, với những yêu cầu quá quắt của phong tục miền núi khiến Mị mất đi tự do, trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra.
+ Chai lì hết mọi xúc cảm và khao khát tự do, biến thành một con người lầm lũi như con rùa trong xó cửa. Gọi là con dâu, nhưng lại là kiếp con dâu gạt nợ, chẳng khác gì một con ở không công đến suốt đời suốt kiếp cho nhà thống lí, không được ngơi nghỉ.
+ Mị thậm chí còn bị đày đọa về tinh thần. Bản thân Mị và A Sử vốn không có tình cảm với nhau, Mị phải gánh chịu nhiều giày vò mà vẫn phải ở với nhau. A Sử đối với Mị chẳng khác gì chủ nhà với con ở, bị đánh đạp và đối xử tàn nhẫn, dã man.
+ Cuộc sống của Mị bị vây trong một căn buồng tối có duy nhất một ô cửa bé bằng bàn tay mà "lúc nào cũng thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng" chẳng rõ ngày hay đêm.
+ Khổ, bị áp bức, bị bóc lột nhưng Mị không dám bỏ trốn, bởi Mị đã bị chúng nó đem đi cúng trình ma.
=> Một cô gái trẻ trung mất dần sức sống, trở thành cô gái bất hạnh bị chà đạp. Mị đã bị tha hóa, thay đổi, trở thành nô lệ. Tuyệt vọng nghĩ rồi cô sẽ sống ở căn phòng tối tăm này cho đến chết thì thôi, chứ không còn một mối thoát nào khác.
- A Phủ:
+ Chỉ vì một cuộc ẩu đả với A Sử mà A Phủ bị phạt vạ oan ức một số tiền lớn.
+ Phải vĩnh viễn chôn chân tại nhà kẻ thống trị, làm lụng như trâu, như ngựa, sống cuộc đời của một nô lệ để trả món nợ bất công.
- Cha của Mị: Một người nông dân nghèo, vay tiền nhà thống lý để cưới vợ, làm lụng quanh năm suốt tháng để trả nợ, năm nào cũng trả một nương ngô, ấy vậy mà đến khi Mị đã lớn, người vợ đã chết, món nợ ấy vẫn còn phải trả giá cả bằng hạnh phúc của chính con cái mình.
- Nhân vật khác: người đàn bà trong gia đình nhà thống lí từng bị trói đứng ở cột rồi chết rũ, người chị dâu của Mị… tất cả những con người ấy dù không được kể ra nhưng hiểu được họ đã phải trải qua những đau khổ.
1. 2.2.2. Bộ mặt tàn bạo của bọn phong kiến miền núi
- Cho dân vay tiền lãi nặng, bọn phong kiến còn cúng trình ma để dọa người làng.
- Bị xư kiện vô lí, oan uẩn, bị đối xử như con vật.
- Con người không được thanh minh, giải thích; nàng cúng trình ma không để bị quy chụp cho cái đầu tội lỗi
- Hành hạ A Phủ, trói chân tay, đánh đập Mị
1.2.2.3. Phản ánh chân thực những phong tục tập quán, hủ tục của người miền núi vùng Tây Bắc
- Cúng trình ma
- Thủ tục cưới xin
1.3.Kết bài
Khái quát lại vấn đề và nêu cảm nghĩ. Tham khảo tại: Kết bài Vợ chồng A Phủ TOP 50 mẫu chọn lọc
2. Phân tích giá trị hiện thực của Vợ chồng A Phủ chọn lọc hay nhất
Tô Hoài là một cây bút lão luyện thiên về phản ánh những sự thật của cuộc sống đời thường trong những trang viết bình dị, tinh tế và đầy chất thơ. Ông có vốn hiểu biết phong phú và sâu sắc về cuộc sống, đặc biệt là đối với những phong tục tập quán độc đáo của nhiều vùng đất khác nhau, có sự gần gũi, gắn bó với cuộc sống và con người miền núi khiến những đề tài miền núi trở thành mảng sáng tác quan trọng và có giá trị của Tô Hoài. Được mệnh danh là “Nhà văn của thiếu nhi”, giọng văn của Tô Hoài luôn mang phong vị tự nhiên, hồn hậu, ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, dễ cảm. Tác phẩm nổi bật nhất của ông sau Cách mạng Tháng 8 phải kể đến “Vợ chồng A Phủ”, một kiệt tác văn chương được hoàn thiện trong chuyến đi thực tế lên vùng Tây Bắc của tác giả mang giá trị hiện thực sâu sắc, đả kích và lên án sự bất công trong xã hội phân chia tầng lớp đã vùi dập con người đến tận cùng của khổ đau.
Giá trị hiện thực là bức tranh đời sống hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm của mình. Đó là bức tranh đời chân thực nhất được người nghệ sĩ cải biến đưa vào trang văn của mình, từ đó phản ánh lên những sự thực ở đời đến người đọc. Tùy vào ý đồ sáng tạo mà hiện tượng đó được đồng nhất với thực tại cuộc sống hoặc có sự khúc xạ ở những mức độ khác nhau.
Tô Hoài đã đưa những giá trị hiện thực, tham nhập vào cuộc sống của những người lao động Tây Bắc qua truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”. Ông thể hiện sự thấm nhuần được suy nghĩ, cảm nhận xuất phát từ tấm lòng thiện lương của con người nơi đây, thấu hiểu được nỗi đau đớn, tủi cực đang ngày đêm day dứt, trăn trở, thông qua ngòi bút và vốn hiểu biết, Tô Hoài đã xây dựng một cốt truyện cùng các tuyến nhân vật Mị, A Phủ,… như một bức tranh sự thật, tiếng nói chung của đại đa số quần chúng đương thời, là bản cáo trạng đối với những thói hư tật xấu và là tiếng lòng thổn thức của những người thấp cổ bé họng, không có tiếng nói trong xã hội.
Giá trị hiện thực của truyện ngắn được gột tả qua cuộc sống bi kịch của người dân lao động miền núi, điển hình là hình tượng nhân vật Mị và A Phủ. Truyện ngắn kể về Mị là một cô gái xinh đẹp, hiền lành, chăm chỉ, hiếu thảo với bố mẹ nhưng trở thành món nợ truyền đời truyền kiếp của cha mẹ Mị, với những yêu cầu quá quắt của phong tục miền núi khiến Mị mất đi tự do, trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra. Ở đó, cảm xúc của cô như bị chai lì và khao khát tự do, biến thành một con người lầm lũi như con rùa trong xó cửa. Gọi là con dâu, nhưng lại là kiếp con dâu gạt nợ, chẳng khác gì một con ở không công đến suốt đời suốt kiếp cho nhà thống lí, không được ngơi nghỉ. Mị thậm chí còn bị đày đọa về tinh thần. Bởi bản thân Mị và A Sử vốn không có tình cảm với nhau, Mị phải gánh chịu nhiều giày vò mà vẫn phải ở với nhau. A Sử đối với Mị chẳng khác gì chủ nhà với con ở, bị đánh đạp và đối xử tàn nhẫn, dã man. Cuộc sống của Mị bị vây trong một căn buồng tối có duy nhất một ô cửa bé bằng bàn tay mà "lúc nào cũng thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng" chẳng rõ ngày hay đêm. Khổ, bị áp bức, bị bóc lột nhưng Mị không dám bỏ trốn, bởi Mị đã bị chúng nó đem đi cúng trình ma. Một cô gái trẻ trung mất dần sức sống, trở thành cô gái bất hạnh bị chà đạp. Mị đã bị tha hóa, thay đổi, trở thành nô lệ. Tuyệt vọng nghĩ rồi cô sẽ sống ở căn phòng tối tăm này cho đến chết thì thôi, chứ không còn một mối thoát nào khác. Cuộc sống của Mị ở nhà thống lý là điển hình, khái quát toàn bộ khó khăn, khổ đau mà nhân dân lao động miền Bắc phải chịu trước Cách mạng tháng Tám. Tác giả đã mượn nhân vật Mị để làm nổi bật lên hiện thực cay đắng, tủi nhục của những người dân hiền lành, chất phác phải chịu đựng.
Tô Hoài xây dựng hình tượng A Phủ- một chàng trai nghèo khỏe mạnh được rất nhiều con gái trong bản đêm lòng yêu thích. Chỉ vì một cuộc ẩu đả với A Sử mà A Phủ bị phạt vạ oan ức một số tiền lớn. Thống lí Pá Tra đã bắt A Phủ về đánh đập, hành hạ, chàng phải làm việc ở nhà thống lí để trừ nợ dần. Thế là trong nhà thống lí có thêm một người nô lệ nữa. A Phủ phải vĩnh viễn chôn chân tại nhà kẻ thống trị, làm lụng như trâu, như ngựa, sống cuộc đời của một nô lệ để trả món nợ bất công. Do một lần chặng may động rừng, hổ xuống ăn mất một con trâu, A Phủ bị thống lí trói đứng, sau đó chàng gặp Mị, một nạn nhân của cha con thống lý Pá Tra. Chứng kiến số phận khổ đau giống mình, Mị như được tiếp thêm nguồn sức mạnh, dám đứng lên chống lại số phận, cùng A Phủ bỏ trốn, tìm đến một cuộc sống, nơi mà họ có thể sống như một con người thực thụ. Tiếp đó, một nhân vật bị bóc lột, chèn ép tàn bạo là cha của Mị- người nông dân nghèo, vay tiền nhà thống lý để cưới vợ, làm lụng quanh năm suốt tháng để trả nợ, năm nào cũng trả một nương ngô, ấy vậy mà đến khi Mị đã lớn, người vợ đã chết, món nợ ấy vẫn còn phải trả giá cả bằng hạnh phúc của chính con cái mình. Người đàn bà trong gia đình nhà thống lí từng bị trói đứng ở cột rồi chết rũ, người chị dâu của Mị… tất cả những con người ấy dù không được kể ra nhưng hiểu được họ đã phải trải qua những đau khổ.
Giá trị hiện thực còn được tác giá khai thác sắc bén nhằm phơi bày bộ mặt tàn bạo của bọn phong kiến miền núi đã vùi dập, chà đạp con người. Hình tượng cha con nhà thống lý Pá Tra chính là hiện thân của tội ác áp bức, bóc lột, coi số phận con người rẻ mạt như trâu ngựa, mặc sức bóc lột, hành hạ. Đặt trong hoàn cảnh đặc trưng của khu vực miền núi xa xôi, hẻo lánh, dân trí thấp, tư tưởng cổ hủ, lạc hậu và những hủ tục truyền đời, thực dân Pháp đã sử dụng bọn quan lại như tay sai nhằm kìm kẹp nhân dân lao động dưới ách thống trị, bóc lột. Chúng tiếp tay cho chính dân ta hãm hại lẫn nhau vì miếng ăn, vì quyền lực, kẻ có quyền được mặc sức nhũng nhiễu, thu bạc thu vàng, lại được cho muối, cho thuốc phiện về bán nhằm tư lợi cá nhân. Chính điều này đã làm cho mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội ta ngày một rõ ràng, nhóm lên lòng căm thù đối với bọn quan liêu đốn mạt, bê tha. Một trong những đoạn văn miêu tả chân thực nhất của tác phẩm phải kể đến cảnh A Phủ bị trói, bị đánh phạt vạ. Bị chịu đòn từ các trai làng, anh chỉ biết đứng im, không dám nhúc nhích hay chống trả vì mang tội đánh con trai thống lý. Cái tàn ác thể hiện ở chỗ, tên A Sử gây sự đánh nhau, nhưng khi bị đánh lại được bênh vực, được cha đi tìm kẻ đã đánh con trai mình về hành hạ, trong khi A Phủ, vì không có cha mẹ, vì thân phận hèn kém lại phải chịu đòn, chịu phạt. Tất cả thể hiện sự tàn bạo, coi người như rơm rác của bọn quan lại, dã man xuống tay đánh đập trong khi bọn chúng thảnh thơi hút thuốc, chửi bới, thóa mạ. Thật không thể tưởng tượng được lại tồn tại một xã hội thối rữa, nơi nhân phẩm con người không bằng một con vật, kẻ phạm tội lại là quan tòa, người vô tội lại trở thành con nợ mạt kiếp, bị đánh đập tàn ác. Phải chăng, đây chính là những góc khuất đã được thế lực đen tối dung túng để bọn quan liêu mặc sức tung hoành, nhũng nhiễu, bóc lột dân chúng, bợ đỡ bọn Tây nhằm trục lợi, vơ vét của cải.
Tội ác của cha con thống lý Pá Tra không có ngôn từ nào kể hết, chúng không thương xót một ai, kể cả những số phận yếu đuối, không có khả năng chống cự. Thân phận gạt nợ của Mị cũng bắt nguồn từ món nợ giữa bố của thống lý Pá Tra và bố mẹ Mị do cha Mị lấy mẹ Mị không đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lý, bố của thống lý Pá Tra bây giờ. Mỗi năm cha Mị đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô. Đến tận khi hai vợ chồng về già mà cũng chưa xong nợ. Người vợ chết, cũng chưa trả hết nợ. Món nợ truyền đời từ bố mẹ sang con cháu đã cho thấy sự bóc lột của kẻ nắm quyền, không một sự thương xót với người già, trẻ nhỏ hay cả những gia đình bần hàn, cơ cực. Cái duy nhất bọn chúng quan tâm là lợi ích, tiền của. Dường như, tình người không hề tồn tại với cha con thống lý Pá Tra. Cuộc đời Mị từ lúc bị lừa bắt về làm dâu, sống lặng lẽ “như một con rùa nuôi trong xó cửa”, làm việc quần quật “ đến khi bị hành hạ cực khổ, bị trói, bị đánh,… giống như một bản án buộc tội thế lực quan lại độc ác, vô nhân tính, là bản cáo trạng chân thực nhất về tội ác của cha con thống lý Pá Tra đã đè nặng lên cả một kiếp người, không chỉ khiến độc giả đau xót, mà còn khơi gợi sự căm tức, phẫn nộ, cảm thông với nhân vật.
Một trong những chi tiết độc đáo nhất tác phẩm mang tính hiện thực sâu sắc là cảnh cô Mị bị trói cả đêm ở cột nhà khi A Sử nhìn thấy Mị đang chuẩn bị đi chơi. Một cô gái trẻ trung, dồi dào sức sống với iềm khao khát được đi tìm bạn bè, đi chơi trong đêm tình mùa xuân, nhưng tất cả những tia hy vọng đó của Mị đã lập tức bị dập tắt khi cô bị chính người chồng của mình trói đứng vào cột nhà bằng sợi mây một cách tàn bạo. Đau khổ lên đến tột cùng, ngay đến những ước muốn nhỏ nhoi và đơn giản nhất, Mị cũng không thể thực hiện được. Cái đau thể xác có thể diễn tả, nhưng nỗi đau tinh thần như từng vết roi hằn lên tâm hồn Mị. Cô gái tội nghiệp đến đáng thương ấy, chỉ vì muốn đi chơi như bao người khác mà bị hành hạ dã man, bị trói đứng trong đêm tối cô quạnh. Ở đây, Tô Hoài không trực tiếp lên án xã hội cổ hủ lạc hậu, bất nhân, coi người như cỏ rác, nhưng thông qua hình ảnh của Mị, mọi đường nét thực tại đều được khắc họa một cách chân thực, rõ ràng. Hiện thực về cuộc sống lao động khổ đau, hiện thực về thân phận mòn mỏi, hiện thực về cái ác đang ngày ngày hiện hữu, tất cả đều được tác giả khai thác và phơi bày trước ánh sáng.
Tô Hoài không phê phán một cách trực tiếp, nhưng chính từ những hành động của thống lý Pá Tra đối với A Phủ và Mị, bị đẩy vào số phận con sâu cái kiến, người đọc đã nhận ra được bộ mặt bóc lột, lên án gay gắt chế độ quan lại trong xã hội thực dân nửa phong kiến khu vực miền núi Tây Bắc đã khiến biết bao con người khỏe mạnh, chịu thương chịu khó trở thành tay sai cho chế độ bóc lột bạo tàn. Giá trị hiện thực của tác phẩm là phơi bày được bộ mặt xấu xa của chế độ phong kiến lỗi thời, nơi những kẻ ác nghiệt nắm mọi quyền sinh quyền sát trong tay, nơi kiếp người bị rẻ rúng, không bằng con trâu, con ngựa. Tô Hoài đã xuất sắc trong việc tái hiện lại bức tranh hiện thực về số phận những con người khốn khổ nơi vùng núi cao, đồng thời lên án, vạch mặt những thế lực đen tối đã vùi dập, chà đạp con người và phản ánh chân thực những phong tục tập quán, hủ tục của người miền núi vùng Tây Bắc.
Giá trị hiện thực của “Vợ chồng A Phủ” là hiện thực cuộc sống của những người dân Tây Bắc, cần cù, chăm chỉ, chân phương nhưng bất hạnh, khổ cực. Nhân vật Mị và A Phủ là hiện thân của kiếp đời nô lệ dưới chế độ phong kiến được nhà văn Tô Hoài xây dựng từ những chất liệu hiện thực gần gũi nhất, thẳng thắn nhất. Ông gián tiếp khắc họa cuộc sống và số phận của người dân lao động trước Cách mạng, là tiếng nói mang tính tố cáo, lên án những kẻ lợi dụng chức quyền đã vùi dập con người, đứng trên lập trường của nhân dân, bảo vệ người dân lao động, tố cáo tội ác của quân thù và bọn bất lương. Qua tác phẩm, Tô Hoài cũng gửi gắm sự trân trọng đến nhân vật của mình- những người dân vùng núi phía Bắc. Trên phương diện này, Tô Hoài đã hoàn thành một cách trọn vẹn với tư cách một người quan sát, một nhà truyền đạt, là sợi dây kết nối giữa bạn đọc và những con người họ chưa từng một lần gặp gỡ.
Trên đây là dàn ý và bài văn Phân tích giá trị hiện thực của Vợ chồng A Phủ chọn lọc hay nhất. Luật Minh Khuê hi vọng rằng bài viết giúp bạn củng cố thêm kiến thức để hoàn thành bài tập cũng như bài kiểm tra tốt hớn. Xem thêm: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ hay nhất. Trong quá trình tìm hiệu, nếu có thắc mắc hãy liên hệ với chúng tôi để được giải đáp. Trân thành cảm ơn!