1. Top 3+ bài văn phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam chọn lọc hay nhất
Bài văn phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam - Mẫu số 1
Nhắc đến Thạch Lam là nhắc đến một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Tác phẩm của ông chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ. Nhà văn Nguyễn Tuân khi nhận xét về Thạch Lam từng viết: “Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn từ những chân cảm đối với con người ở tầng lớp dân nghèo. Thạch Lam là nhà văn luôn quý mến cuộc sống, trân trọng sự sống của mọi người xung quanh”. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” chính là minh chứng tiêu biểu nhất cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam.
“Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An. Do gia đình xảy ra biến cố, hai đứa trẻ theo mẹ về quê ngoại ở một phố huyện nghèo. Ngày ngày hai chị em Liên và An trông coi căn hàng xén nho nhỏ với vài ba bao thuốc, dăm bánh xà phòng… và chờ đợi đoàn tàu đi ngang phố huyện. Qua con mắt ngây thơ của Liên, cuộc sống nơi phố huyện hiện lên chân thực, sống động. Đó là mảng màu u tối trong không gian chật hẹp, tù túng với những con người chậm chạp, vô hồn và nghèo đói. Truyện ngắn thể hiện niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp sống nghèo khổ, chìm khuất trong mòn mỏi, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước cách mạng và sự trân trọng với những mong ước nhỏ bé, bình dị mà tha thiết của họ.
Như đã nói, làm nên truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là cảnh ngày tàn và những kiếp người tàn. Mở đầu câu chuyện, đập vào giác quan người đọc là khung cảnh chiều tàn, ảm đạm và u tối. Thời gian được khắc họa trong tác phẩm ngắn ngủi, mọi sự việc diễn ra được kể từ lúc chiều tối cho đến đêm. Cảnh chiều tàn, trước hết qua con mắt của người nghệ sĩ, vẫn mang vẻ đẹp vô cùng yên ả, bình dị và thơ mộng. “Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời. Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Thế nhưng, bức tranh ấy tuy đẹp nhưng ẩn chứa sau nó là cả một nỗi buồn mà người vẽ đã cố ý che đi bằng những mảng màu rực rỡ. Có người đã nhận xét, văn Thạch Lam vừa chất chứa hiện thực vừa giàu tính lãng mạn. Điều đó hoàn toàn đứng khi đặt vào truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Bởi khuất lấp sau nhiều tầng lớp ngôn từ, điều Thạch Lam gửi gắm đó là cuộc sống mòn mỏi, tăm tối vây hãm con người.
Nơi chị em Liên ở là một phố huyện nghèo và thực chất nó là cái chợ xép nhỏ. “Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này.” Chỉ cần nhìn vào những gì còn sót lại sau phiên chợ cũng đủ để thấy cuộc sống cư dân ở đây khổ cực như thế nào. Những người bán hàng về muộn đứng nói chuyện với nhau ít câu như để trao lại cho nhau những nỗi tẻ nhạt cuộc sống mưu sinh. Những đứa trẻ nhà nghèo đang lúi húi sinh nhai trên đống phế phẩm của phiên chợ quê nghèo. Chúng “cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa thanh tre hay bất cứ thứ gì có thể dùng được của những người bán hàng để lại”. Đây là hiện thân đầy đủ nhất của sự khốn cùng. Tất cả như đang cố sức để sống và hi vọng nhưng sự cố gắng thì đã quá sức còn hi vọng vốn quá mong manh.
Nổi bật trên nền cảnh tàn tạ, hắt hiu của phố huyện là hình ảnh những kiếp người tàn, quẩn quanh, tù túng không lối thoát. Đó là vợ chồng bác xẩm với tiếng đàn bầu thê lương, trên manh chiếu rách, thằng con bò ra đất ngoài manh chiếu, nghịch nhặt rác bẩn. Đó là mẹ con chị Tí, ngày mò cua bắt ốc, tối đến lại dọn hàng nước ven đường “chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm”. Đó là bác phở Siêu với gánh hàng vốn là thứ quà xa xỉ đối với người dân phố huyện, là bà cụ Thi điên nghiện rượu, là những đứa trẻ con nhà nghèo và chính cả hai chị em Liên… Thân phận tàn tạ đang héo mòn, con người hoà lẫn cùng bóng tối như những cái bóng vật vờ lay lắt, mong manh đang trôi theo thời gian. Cuộc sống ấy cứ đều đều, đơn điệu, lặp đi lặp lại buồn tẻ, nhàm chán đối với người dân phố huyện. Tất cả họ đang mong đợi một cái gì đó tươi mát thổi vào cuộc đời họ. Nét vẽ âm thanh, ánh sáng, con người của bức tranh phố huyện tưởng chừng rời rạc, nhưng nó hoà quyện cộng hưởng trong hệ thống u buồn, trầm mặc, xót xa. Điểm thêm vào cuộc sống ấy là ngọn đèn dầu cùng bóng tối bao phủ, càng ngợi sự nghèo khổ lay lắt đến tội nghiệp.
Cảnh ngày tàn được miêu tả ảm đạm, tù túng với những kiếp người tàn. Và, sự tẻ nhạt, tăm tối như được nâng lên gấp nhiều lần khi Thạch Lam miêu tả cảnh phố huyện lúc đêm khuya. Trong tác phẩm có đến hơn hai mươi lần từ “tối” được lặp lại. “Đường phố và các con ngõ dần dần chứa đầy bóng tối”, “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa”, “đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối”. Bóng tối bao trùm tất cả, tràn ngập trong tác phẩm, tạo nên một bức tranh u tối, một không gian tù đọng, gợi cảm giác ngột ngạt. Bóng tối được miêu tả nhiều trạng thái khác nhau, có mặt suốt từ đầu đến cuối tác phẩm. Gợi cho người đọc thấy một kiếp sống bế tắc, quẩn quanh của người dân phố huyện nói riêng và nhân dân trước cách mạng tháng Tám nói chung. Đó cũng là biểu tượng của những tâm trạng vô vọng, nỗi u hoài trong tâm thức của một kiếp người.
Không chỉ là không gian, cảnh vật, cuộc sống của những cư dân nơi phố huyện cũng phủ đầy đêm tối. Họ hoạt động, mưu sinh trong bóng tối mịt mù. Tối đến, mẹ con chị Tí dọn hàng nước. Đêm về, bác phở Siêu xuất hiện. Trong bóng tối, gia đình bác hát Xẩm kiếm ăn. Khi bóng tối tràn ngập là lúc bà cụ Thi điên đến mua rượu uống rồi sau đó “đi lần vào đêm tối”. Còn Liên và An đêm nào cũng ngồi lặng ngắm phố huyện và chờ đoàn tàu. Cuộc sống lặp đi lặp lại đơn điệu, buồn tẻ với những động tác quen thuộc, những suy nghĩ mong đợi như mọi ngày. Họ cùng mong đợi “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày”. Trong bóng tối đen đặc ấy, hình ảnh ngọn đèn dầu được nhắc hơn mười lần như một chút hi vọng mong manh Thạch Lam muốn gieo vào lòng con người. Đó là “ngọn đèn lay động trên chõng hàng của chị Tí”, “ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa”. Tất cả không đủ chiếu sáng, không đủ sức phá tan màn đêm, mà ngược lại nó càng làm cho đêm tối trở nên mênh mông hơn, càng ngợi sự tàn tạ, hắt hiu, buồn đến nao lòng. Ngọn đèn dầu, mặt khác cũng là biểu tượng về kiếp sống nhỏ nhoi, vô danh vô nghĩa, lay lắt. Một kiếp sống leo lét mỏi mòn trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ, không hạnh phúc, không tương lai, cuộc sống như cát bụi. Cuộc sống ấy cứ ngày càng một đè nặng lên đôi vai mỗi con người nơi phố huyện. Cả một bức tranh đen tối. Những hột sáng của ngọn đèn dầu hắt ra chỉ như những lỗ thủng trên một bức tranh toàn màu đen càng bi đát, tối tăm.
Trong toàn bộ tác phẩm, nhân vật mà Thạch Lam chú ý nhiều nhất là nhân vật Liên. Mặc dù Liên chỉ là một cô bé mới lớn nhưng ở em có những suy nghĩ, cảm xúc chân thực, đẹp đẽ đáng trân trọng. Ở đây, trước cảnh tăm tối, tù túng nơi phố huyện, tâm trạng của Liên cũng trở nên buồn bã, tư lự. Liên nhớ lại những tháng ngày tươi đẹp ở Hà Nội, “một vùng sáng rực và lấp lánh”. Khi ấy “mẹ Liên nhiều tiền – được đi chơi bờ hồ uống những cốc nước lạnh xanh đỏ”. Đó là cuộc sống khác hẳn với cảnh sống tăm tối, tù túng nơi phố huyện. Tuy nhiên, với cuộc sống hiện tại, cảm nhận của Liên tuy buồn nhưng thân thuộc, gần gũi. Liên không ghét bỏ hay từ chối cuộc sống hiện tại. Liên và An lặng lẽ ngắm các vì sao, lặng lẽ quan sát những gì diễn ra ở phố huyện và xót xa cảm thông, chia sẻ với những kiếp người nhỏ nhoi sống lay lắt trong bóng tối của cơ cực đói nghèo, tù đọng trong bóng tối của họ.
Một chút ánh sáng của những ngọn đèn có thể không đủ để xua đi cái tăm tối, ảm đạm, quẩn quanh của cuộc sống. Tuy nhiên, Thạch Lam không dập tắt hi vọng của những con người khốn khổ ấy. Ông mang đến cho họ niềm vui, hi vọng lớn lao hơn dù nó chỉ diễn ra trong chốc lát, đó là chuyến tàu đêm rực rỡ ánh đèn. Chuyến tàu đêm qua phố huyện là niềm vui duy nhất trong ngày của chị em Liên và những cư dân phố huyện. Nó mang đến một thế giới khác: ánh sáng xa lạ, âm thanh nao nức, tiếng ồn ào của khách… và đối lập với nhịp điệu buồn tẻ nơi phố huyện. Chuyến tàu ở Hà Nội về chở đầy ký ức tuổi thơ của hai chị em Liên, mang theo một thứ ánh sáng duy nhất, như con thoi xuyên thủng màn đêm, dù chỉ trong chốc lát cũng đủ xua tan cái ánh sáng mờ ảo nơi phố huyện. Việc chờ tàu trở thành một nhu cầu như cơm ăn nước uống hàng ngày của chị em Liên. Liên chờ tàu không phải vì mục đích tầm thường là đợi khách mua hàng mà vì nhiều mục đích khác. Liên hi vọng được nhìn thấy những gì khác với cuộc đời mà hai chị em Liên đang sống. Con tàu mang đến một kỷ niệm, đánh thức hồi ức vui vẻ, đủ đầy mà chị em cô đã từng được sống. Chuyến tàu cũng giúp Liên nhìn thấy rõ hơn sự ngưng đọng tù túng của cuộc sống phủ đầy bóng tối hèn mọn, nghèo nàn của cuộc đời mình. Có thể nói, Liên là người giàu lòng thương yêu, hiếu thảo và đảm đang. Nỗi buồn cùng bóng tối đã tràn ngập trong đôi mắt Liên, nhưng trong tâm hồn cô bé vẫn dành chỗ cho một mong ước, một sự đợi chờ trong đêm. Cô là người duy nhất trong phố huyện biết ước mơ có ý thức về cuộc sống. Cô mỏi mòn trong chờ đợi.
Trong tác phẩm, hình ảnh chuyến tàu đêm là một biểu tượng có ý nghĩa sâu sắc. Nó là đại diện của một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và sự rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh với người dân phố huyện. Qua tâm trạng của Liên tác giả muốn lay tỉnh những người đang buồn chán, sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là giá trị nhân bản của truyện ngắn này. Bên cạnh đó, chuyến tàu cũng là biểu tượng cho một cuộc sống sôi động, nhộn nhịp, vui vẻ, hiện đại. Dù chỉ trong giây lát nó cũng đưa cả phố huyện thoát ra khỏi cuộc sống tù đọng, u ẩn, bế tắc.
Để làm nên thành công của tác phẩm, bên cạnh giá trị nội dung sâu sắc, không thể không kể đến tài hoa nghệ thuật của Thạch Lam. Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh, mơ hồ trong tâm hồn nhân vật. Đọc “Hai đứa trẻ”, người đọc hoàn toàn có thể nhận ra câu chuyện gần như không có cốt truyện, tất cả chỉ đơn giản là những mảnh cảm xúc, những chi tiết, sự việc nhỏ nhặt chắp nối với nhau qua suy nghĩ, cảm nhận của nhân vật Liên. Bút pháp tương phản đối lập cũng được xem là một thành công của Thạch Lam trong quá trình kể chuyện. Đó là sự đối lập giữa bóng tối đậm đặc với ánh đèn dầu leo lét, là sự đối lập giữa cuộc sống quẩn quanh, ảm đạm của người dân phố huyện với cuộc sống ồn ã, sôi động trên chuyến tàu đêm. Với sự đối lập này, Thạch Lam hướng đến nhấn mạnh, tô đậm cuộc sống tăm tối, tù túng, vô vọng của những cư dân nơi phố huyện. Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể dễ dàng nhận ra khả năng miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật từ bóng tối đến ánh sáng và tâm trạng của con người mà đặc biệt là nhân vật Liên. Đó có thể là buồn bã, cảm thông hay nuối tiếc… tất cả đều tinh tế và phù hợp với diễn biến câu chuyện. Ngoài ra, cũng có thể kể đến hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, tượng trưng và giọng điệu thủ thỉ, thấm đượm chất thỏ chất trữ tình sâu sắc. Tất cả đã góp phần làm nên chất văn của Thạch Lam, đặc sắc và đầy thu hút.
Tóm lại, truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám. Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.
(19).png)
Bài văn phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam - Mẫu số 2
Trong dòng văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945, Thạch Lam xuất hiện như một giọng điệu riêng, lặng lẽ mà sâu sắc, mang theo tư tưởng nhân đạo tinh tế và bút pháp giàu chất thơ. Tiến sĩ Chu Văn Sơn từng cho rằng Thạch Lam đến với văn chương như mang theo “sứ mệnh hòa giải giữa thơ và văn xuôi, giữa hiện thực và lãng mạn”. Nhận định ấy đặc biệt phù hợp khi nói về truyện ngắn Hai đứa trẻ, một tác phẩm không có cốt truyện kịch tính mà nghiêng hẳn về miêu tả tâm trạng và cảm xúc, để rồi từ đó hé lộ vẻ đẹp tiềm ẩn của những con người nhỏ bé nơi phố huyện nghèo. Bằng sự trân trọng dịu dàng đối với đời sống bình dị, Thạch Lam đã để lại cho người đọc một bản “thơ văn xuôi” thấm đượm nỗi buồn man mác và một khát vọng vượt thoát mong manh nhưng tha thiết.
Tác phẩm mở ra từ cảnh chiều tàn – thời điểm dễ khơi gợi nỗi buồn nhất trong ngày. Thạch Lam đã sử dụng một loạt chi tiết giàu sức gợi để diễn tả sự tàn úa của thời gian và của cả cuộc sống phố huyện: “phương Tây đỏ rực như lửa cháy”, “những đám mây hồng như hòn than sắp tàn”. Sắc đỏ rực rồi lịm đi báo hiệu một ngày kết thúc, đồng thời gợi cảm giác mệt mỏi, lụi tàn của những kiếp người nơi đây.
Không gian phố huyện nghèo càng trở nên xác xơ hơn qua những âm thanh thưa thớt của đời sống: tiếng trống thu không “vang ra để gọi buổi chiều”, tiếng ếch nhái ngoài đồng, tiếng muỗi vo ve lẫn trong bóng tối. Cùng với âm thanh là mùi vị quen thuộc của sự nghèo khó: “mùi cát bụi, mùi phân trâu bò, mùi rác rưởi” hòa lẫn trong gió chiều. Phố huyện hiện lên không chỉ nghèo về vật chất mà còn nghèo cả về sinh khí, như một thế giới đang chìm dần vào bóng tối.
Những phận người ở đó cũng lầm lũi theo nhịp sống tàn úa ấy: chị Tí chỉ bán được vài ngọn đèn, bác Siêu nấu phở nhưng chẳng mấy ai có tiền ăn, gia đình bác Sẩm hát rong run rẩy trong đêm, còn cụ Thi thì lẩn thẩn giữa đời sống hẩm hiu. Họ tồn tại chứ không thực sự sống, chờ đợi chứ không có hy vọng. Qua việc miêu tả đời sống ấy bằng giọng văn nhẹ nhàng, không bi lụy, Thạch Lam không nhằm bi kịch hóa nghèo đói mà khơi gợi sự thấu hiểu, đồng cảm sâu lắng.
Trung tâm cảm xúc của truyện là Liên – cô bé có tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng thương người. Liên cảm nhận cảnh chiều tàn không chỉ bằng mắt mà bằng cả tâm hồn: cái buồn “thấm thía” của buổi chiều như ngấm vào từng giác quan của em. Mùi đất, tiếng trống, ánh chiều đỏ… tất cả khơi dậy trong Liên nỗi xót xa mơ hồ về cuộc sống tàn lụi đang bủa vây.
Liên thương những đứa trẻ nghèo nhặt nhạnh rác rưởi sau buổi chợ – thương đến “động lòng” nhưng vẫn bất lực vì “chị cũng không có tiền để cho chúng nó”. Liên hiểu được nỗi cơ cực của bác Siêu, nỗi tuyệt vọng của bác Sẩm, và thậm chí đối với cụ Thi điên, Liên vẫn nhẹ nhàng rót rượu mời cụ. Tất cả những hành động ấy thể hiện tấm lòng nhân ái rất đẹp của một cô bé tuy còn nhỏ nhưng có trái tim thấu hiểu.
Hiện tại tăm tối càng nổi bật hơn khi được đặt cạnh ký ức đẹp đẽ của Liên về Hà Nội – nơi “rực rỡ ánh sáng”, nơi tuổi thơ từng sống no đủ. Những ký ức ấy vừa xoa dịu Liên, vừa khiến em càng cảm nhận rõ hơn sự đối lập giữa quá khứ đầy ánh sáng và hiện tại nghèo khó. Tuy vậy, Liên vẫn giữ được những niềm vui trẻ thơ khi ngắm bầu trời đêm đầy sao hay theo dõi bước bay của những con đom đóm. Đó là vẻ đẹp tinh khôi của một tâm hồn còn biết rung động, biết ấp ủ hy vọng dù đang sống trong bóng tối.
Đỉnh điểm xúc cảm của truyện chính là cảnh đợi tàu – hình ảnh mang tính biểu tượng đặc sắc nhất. Đoàn tàu đến từ Hà Nội – nơi phồn hoa, giàu sáng và tràn đầy nhịp sống – như một thế giới khác hẳn với bóng tối mênh mông của phố huyện.
Khi đoàn tàu xuất hiện, ánh sáng “rực rỡ”, “chan hòa” của nó làm đổi khác cả không gian: phố huyện như sáng bừng lên trong giây lát. Đoàn tàu không chỉ là phương tiện giao thông; nó là “một vệt sao sáng” lướt qua cuộc đời buồn bã, là dấu hiệu duy nhất của sự sống sôi động, là niềm an ủi ngắn ngủi cho những tâm hồn đang khao khát đổi thay.
Liên và An đợi tàu không chỉ vì tò mò trẻ nhỏ, mà vì đoàn tàu mang đến một thông điệp tinh thần: nó khơi gợi ước mơ về một cuộc sống khác, đẹp hơn, sáng hơn. Thế nhưng, đoàn tàu đến rồi đi rất nhanh, trả lại cho phố huyện bóng tối dày đặc. Vẻ “tiếc nuối” trong tâm hồn Liên cho thấy khát vọng vượt thoát ấy chỉ như một ánh sáng vụt lóe lên – đẹp nhưng mong manh.
Chính ở chi tiết này, chất lãng mạn và ý nghĩa nhân đạo của Thạch Lam được thể hiện rõ nhất. Ông không tạo ra một lối thoát, không tô vẽ hiện thực, nhưng ông trân trọng khát vọng được mơ, được sống, được hướng về ánh sáng của những con người nhỏ bé.
Hai đứa trẻ thành công không phải nhờ cốt truyện, mà nhờ vẻ đẹp tinh tế của bút pháp và chiều sâu nhân đạo. Chất thơ thấm vào từng câu chữ: nhịp văn chậm rãi, hình ảnh gợi cảm, âm thanh dịu nhẹ và cảm xúc lan tỏa. Ngôn ngữ giàu chất gợi, nhạc điệu trong miêu tả khiến tác phẩm như một bản nhạc buồn triền miên.
Thạch Lam cũng thể hiện khả năng miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế. Tâm trạng của Liên được khắc họa không qua những lời nói lớn, mà qua những cảm nhận mơ hồ, những hành động nhỏ nhưng thấm đượm tình người.
Trên nền nghệ thuật ấy, tư tưởng nhân đạo của nhà văn được thể hiện một cách thấm thía: trân trọng phẩm giá của những số phận nghèo khổ, khẳng định quyền được mơ ước của con người dù trong hoàn cảnh tăm tối nhất. Đồng thời, truyện cũng kín đáo phê phán sự trì trệ của xã hội đương thời – nơi những con người lầm lũi chỉ biết chờ đợi ánh sáng từ một thế giới khác.
Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một truyện ngắn đặc sắc, vừa giàu chất thơ, vừa đậm ý nghĩa nhân đạo. Bằng bút pháp lãng mạn hòa quyện hiện thực, bằng sự rung cảm tinh tế dành cho những phận người nhỏ bé, tác phẩm đã lay động người đọc bằng nỗi buồn man mác và khát vọng mong manh mà tha thiết. Đọc Hai đứa trẻ, ta không chỉ được nhìn thấy bóng tối và ánh sáng của một phố huyện nghèo, mà còn được lắng nghe tiếng nói của trái tim – tiếng nói trân trọng cuộc sống, trân trọng ước mơ dù là nhỏ bé nhất.
Bài văn phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam - Mẫu số 3
Trong dòng chảy văn xuôi hiện thực giai đoạn 1930 – 1945, Thạch Lam là một giọng văn đặc biệt: lặng lẽ, tinh tế và giàu chất nhân đạo. Ông không đi sâu vào các xung đột dữ dội hay những tình huống gay gắt, mà chọn khai thác những rung động rất đỗi bình thường trong đời sống. Hai đứa trẻ là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách ấy. Chỉ bằng những chất liệu giản dị như chợ chiều tàn, tiếng ếch nhái kêu trong ruộng, ánh đèn leo lét và đoàn tàu đêm, Thạch Lam đã khắc hoạ một bức tranh phố huyện nghèo cùng những khát vọng âm thầm của con người nơi đây.
Mở đầu truyện là cảnh chợ chiều tàn gần như đã khép lại cả một ngày lao động lam lũ. Mùi “đất, mùi cát bụi quen thuộc” hoà lẫn với ánh chiều đỏ rực đang dần tắt, gợi ra cảm giác nghèo nàn, úa tàn của một vùng quê nhỏ. Thạch Lam không dựng lên hình ảnh phố huyện bằng những nét sắc lạnh của hiện thực, mà bằng những chi tiết rất nhỏ nhưng gợi buồn sâu: những rổ hàng ế, vài ba đứa trẻ con nhà nghèo đi nhặt nhạnh những thứ sót lại, tiếng trống thu không vang vọng từ huyện lị… Tất cả như phủ lên không gian một màn sương mỏng, vừa thật vừa mang màu sắc tâm trạng. Qua đó, người đọc cảm nhận được sự quẩn quanh, tù túng của đời sống nơi phố huyện – nơi ngày nối ngày, người nối người mà chẳng có điều gì mới mẻ.
Trong bức tranh ấy, hai chị em Liên hiện lên như hai mảnh đời nhỏ bé nhưng giàu cảm xúc. Liên tuy còn trẻ nhưng đã sớm cảm nhận nỗi buồn âm ỉ của cuộc sống. Em thương cho những phận người lam lũ quanh mình, từ chị Tí làm thuê ban ngày đến tối lại bán nước, đến bác phở Siêu lầm lũi kéo xe. Trái tim nhạy cảm khiến Liên nhìn đâu cũng thấy buồn, nhưng đó không phải là sự tuyệt vọng mà là nỗi buồn nhân ái, giàu lòng thương. Còn An – em trai Liên – lại hồn nhiên hơn, nhưng cũng khát khao chờ đợi đoàn tàu như chị. Cả hai đứa trẻ cùng nhìn đêm xuống bằng đôi mắt trong trẻo, vừa bâng khuâng vừa tha thiết.
Điểm nhấn đặc biệt trong truyện chính là những ánh sáng và bóng tối đan xen. Bóng tối luôn tràn ngập: từ “khoảng tối mênh mông” của cánh đồng đến “con đường làng quanh co” hay “những ngọn đèn leo lét” trong quán nhỏ. Nhưng trong bóng tối ấy, ánh sáng tuy nhỏ nhưng vẫn tồn tại: ánh đèn dầu của mẹ con chị Tí, ánh lửa của gánh phở, ánh lân tinh của những hạt bụi, và rực rỡ nhất là ánh sáng của đoàn tàu đêm. Ánh sáng trong Hai đứa trẻ không chỉ là hình ảnh miêu tả mà còn mang ý nghĩa biểu tượng: nó gợi lên niềm hy vọng mong manh, những ước mơ bé nhỏ nhưng bền bỉ của con người trong cảnh sống tăm tối.
Đoàn tàu đêm là chi tiết kết thúc truyện nhưng lại mở ra chiều sâu tư tưởng quan trọng. Mỗi lần tàu đến là một lần phố huyện như bừng sáng, như được tiếp xúc với một thế giới khác giàu sang, tấp nập, đầy ánh sáng và âm thanh. Hai chị em Liên luôn chờ tàu không chỉ vì tò mò, mà vì đó là khoảnh khắc duy nhất giúp các em cảm nhận một niềm vui, một niềm hy vọng rất con trẻ. Đoàn tàu mang ý nghĩa của sự đổi thay, của khát vọng vươn tới những điều tốt đẹp. Song khi tàu đi qua, bóng tối lại bao trùm, để lại trong lòng hai đứa trẻ nỗi trống vắng. Cách kết thúc này rất đặc trưng cho văn Thạch Lam: nhẹ nhàng, không kịch tính, nhưng dư âm lại day dứt và thấm sâu.
Điều làm nên giá trị đặc biệt của Hai đứa trẻ chính là tiếng nói nhân đạo thấm đượm trong từng trang văn. Thạch Lam không tô đậm nỗi khổ cực, không tố cáo gay gắt, nhưng qua những chi tiết giản dị và cảm xúc tinh tế, ông khiến người đọc cảm nhận sâu sắc sự nghèo khó và cả những ước mơ bị kìm nén của con người nơi phố huyện. Từ sự cảm thương đối với những kiếp người mỏi mòn ấy, lòng nhân ái của nhà văn sáng lên như ngọn lửa ấm, khiến câu chuyện trở nên xúc động và giàu giá trị nhân văn.
Không cầu kỳ, không dữ dội, Hai đứa trẻ của Thạch Lam chinh phục người đọc bằng vẻ đẹp nhẹ nhàng, sâu lắng. Bức tranh phố huyện nghèo được khắc hoạ bằng bút pháp tinh tế đã mở ra một thế giới vừa thực vừa thấm đẫm chất thơ; những tâm hồn trẻ thơ biết buồn, biết ước mơ làm lay động trái tim người đọc; và ánh sáng của đoàn tàu trở thành biểu tượng vĩnh cửu của khát vọng sống. Tất cả đã làm nên một tác phẩm vượt thời gian, góp phần khẳng định tài năng của Thạch Lam trên văn đàn Việt Nam.
2. Dàn ý phân tích tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam
I. Mở bài
- Đôi nét về tác giả Thạch Lam: Một trong những cây bút tiêu biểu của Tự lực văn đoàn, ông có thế mạnh về viết truyện ngắn. Văn chương Thạch Lam rất thích hợp để thanh lọc tâm hồn.
- Hai đứa trẻ là một truyện ngắn trữ tình đượm buồn phù hợp cho nhận định trên.
II. Thân bài:
Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn:
- Bức tranh thiên nhiên nơi phố huyện lúc chiều tàn:
- Toàn bộ cảnh vật được cảm nhận qua cái nhìn của Liên.
- Âm thanh: Tiếng trống thu không gọi chiều về, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve.
- Hình ảnh, màu sắc: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy”, “Những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”.
- Đường nét: dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời.
- Nhịp điệu chậm, giàu hình ảnh và nhạc điệu.
=> Khung cảnh thiên nhiên đượm buồn, đồng thời thấy được sự cảm nhận tinh tế.
- Cảnh chợ tàn và những kiếp người nơi phố huyện:
- Cảnh chợ tàn: Chợ đã vãn từ lâu, người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía.
- Con người: Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ. Mẹ con chị Tí: với cái hàng nước đơn sơ, vắng khách. Bà cụ Thi: hơi điên đến mua rượu lúc đêm tối rồi đi lần vào bóng tối. Bác Siêu với gánh hàng phở – một thứ quà xa xỉ. Gia đình bác xẩm mù sống bằng lời ca tiếng đàn và lòng hảo tâm của khách qua đường.
=> Cảnh chợ tàn và những kiếp người tàn tạ: sự tàn lụi, sự nghèo đói, tiêu điều của phố huyện nghèo.

- Tâm trạng của Liên:
- Cảm nhận rất rõ: “mùi riêng của đất, của quê hương này”.
- Nỗi buồn thấm thía trước cảnh ngày tàn và những kiếp người tàn tạ: Thương những đứa trẻ nhà nghèo nhưng không có tiền mà cho chúng. Xót thương mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép, tối dọn cái hàng nước chè tươi chả kiếm được bao nhiêu, xót thương bà cụ Thi điên.
=> Tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người. Đây cũng là nhân vật mà Thạch Lam gửi gắm tâm tư của mình
Bức tranh phố huyện lúc đêm khuya: Sự đối lập giữa “bóng tối” và “ánh sáng”:
- Phố huyện về đêm ngập chìm trong bóng tối:
- “Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”.
- “Tối hết con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng càng sẫm đen hơn nữa”.
=> Bóng tối xâm nhập, bám sát mọi sinh hoạt của những con người nơi phố huyện.
- Ánh sáng của sự sống hiếm hoi, bé nhỏ: khe sánh, quầng sáng, chấm lửa nhỏ, hột sáng… => Ánh sáng yếu ớt, le lói như những kiếp người nghèo khổ nơi phố huyện.
- Ánh sáng và bóng tối tương phản nhau.
=> Bóng tối bao trùm trong khi ánh sáng chỉ mong manh, nhỏ bé => kiếp người nhỏ bé sống leo lét, tàn lụi trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ.
- Đời sống của những kiếp người nghèo khổ trong bóng tối:
- Những công việc hằng ngày lặp đi lặp lại: Chị Tí dọn hàng nước, Bác Siêu hàng phở thổi lửa, Gia đình Xẩm “ngồi trên manh chiếu rách, cái thau sắt để trước mặt”, “Góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong im lặng”.
- Liên, An trông coi cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu. => Cuộc sống nhàm chán, quẩn quanh, đơn điệu không lối thoát.
- Những suy nghĩ cũng lặp đi lặp lại hằng ngày: Mong những người phu gạo, phu xe, mấy chú lính lệ vào hàng uống bát chè tươi và hút điếu thuốc lào.
- Vẫn mơ ước: “chừng ấy người trong bóng tối đang mong đợi một cái gì tươi sáng cho cuộc sống nghèo khổ hàng ngày của họ” => mơ hồ, tội nghiệp
=> Giọng văn: chậm buồn, tha thiết thể hiện niềm cảm thương của Thạch Lam với những người nghèo khổ.

Hình ảnh chuyến tàu và tâm trạng chờ mong chuyến tàu đêm của Liên và An:
Liên và An thức bởi:
- Để bán hàng.
- Để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện với dấu hiệu đầu tiên:
- Liên cũng trông thấy “ngọn lửa xanh biếc”.
- Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi.
- Khi tàu đến:
- Các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường.
- Những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng.
- Khi tàu đi vào đêm tối:
- Để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt.
- Chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
=> Đoàn tàu xuất hiện với âm thanh sôi động và ánh sáng rực rỡ, mang đến phố huyện nghèo một thế giới khác, đó là thế giới mà Liên luôn mong ước.

III. Kết bài
- Khái quát những nét đặc sắc về nghệ thuật làm nên thành công của truyện ngắn.
- Hai đứa trẻ là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương của Thạch Lam: kết hợp hai yếu tố hiện thực và lãng mạn, văn phong trong sáng, giản dị mà thâm trầm.
