1. Hành vi gian dối được hiểu như thế nào?

Hành vi gian dối là hành vi cố ý lừa đảo, đánh lừa hoặc che đậy sự thật với mục đích đạt được lợi ích cá nhân hoặc gây tổn hại cho người khác. Đây là một hành vi không trung thực, vi phạm đạo đức và đôi khi vi phạm pháp luật.

Hiện nay, thủ đoạn lừa đảo của tội phạm rất tinh vi, tội phạm thường thực hiện hành vi lừa đảo trên các trang mạng xã hội hoặc các trang web, sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, tội phạm sẽ cắt đứt mọi liên hệ với người bị hại và thường người bị hại không biết hoặc biết những thông tin không chính xác về tội phạm. Hành vi gian dối không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn gây tổn thương đến lòng tin, niềm tin xã hội và đạo đức trong các quan hệ cá nhân và cộng đồng.

Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể mà thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

 

2. Phân tích hành vi gian dối nhằm tiếp cận tài sản trong tội cướp giật tài sản

Tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Tại quy định nêu trên thì pháp luật hình sự chỉ nhắc đến tội danh cũng như mức hình phạt áp dụng đối với tội cướp giật tài sản chứ không mô tả cụ thể thế nào là hành vi cướp giật tài sản. Tuy nhiên, căn cứ theo cấu thành tội danh thì tội cướp giật tài sản có thể được hiểu là hành vi công khai giật lấy tài sản của người khác hoặc đang trong sự quản lý của người có trách nhiệm quản lý về tài sản rồi nhanh chóng tìm cách tẩu thoát.

Về mặt khách quan của Tội cướp giật tài sản, đặc trưng hành vi phạm tội được xác định là hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai (yếu tố công khai được hiểu là về mặt ý thức của người phạm tội không có hành vi giấu diếm, che đậy và thực tế nạn nhân biết được người phạm tội đang thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của mình), nhanh chóng mà không sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay bất kỳ thủ đoạn nào khác làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Hành vi công khai, nhanh chóng được xác định là hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm.

Tuy nhiên trên thực tế, khi thực hiện hành vi phạm tội, ngoài hành vi khách quan nêu trên, người phạm tội còn sử dụng nhiều thủ đoạn khác đi liền trước hành vi khách quan của cấu thành tội phạm.

Ví dụ: Anh A có ý định cướp giật tài sản vì túng thiếu tiền, nên sau đó đã sử dụng thủ đoạn gian dối là anh A mua một số sim điện thoại khuyến mại rồi tạo tài khoản trên ứng dụng bán hàng trực tuyến qua mạng và đặt mua loại điện thoại Iphone 12. 

Để thực hiện hành vi phạm tội, A còn chuẩn bị một số xấp tiền (mỗi xấp tiền A để một tờ tiền thật phía trên, một tờ tiền thật phía dưới (mệnh giá từ 50 nghìn đồng đến 500 nghìn đồng, ở giữa xấp tiền thì A để tiền âm phủ và được cột lại bằng dây thun). Khi đến gặp người giao hàng để nhận hàng, A sẽ lấy những xấp tiền được chuẩn bị từ trong túi sách đeo chéo ra để cho người giao hàng thấy, tạo lòng tin cho người giao hàng rồi cất lại vào trong túi. Sau khi kiểm tra hàng xong, A sẽ để gói hàng xuống ba ga xe của xe gắn máy của mình, rồi lấy xấp tiền do A chuẩn bị từ trong túi ra đưa cho người giao hàng. Lợi dụng sơ hở khi người giao hàng tháo dây thun kiểm tiền thì A tăng ga điều khiển xe bỏ chạy để chiếm đoạt điện thoại di động. Bằng thủ đoạn này thì A đã chiếm đoạt tài sản của 05 bị hại, trị giá tài sản chiếm đoạt qua định giá lên đến 150 triệu đồng.

Qua đó, có thể thấy anh A có thủ đoạn gian dối là để các bị hại thấy anh A có tiền, nhằm tạo niềm tin để tiếp cận tài sản. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bên đang thực hiện hành vi giao hàng - nhận tiền, việc chuyển giao tài sản giữa các bị hại và bị cáo chưa hoàn thành, bị cáo chưa ký nhận vào chứng từ giao hàng, tài sản vẫn trong tầm quản lý của các bị hại thì bị cáo đã tăng ga, điều khiển xe tẩu thoát cùng tài sản. Do đó, hành vi của anh A đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”.

Như vậy, trong tình huống trên có hai hành vi được thực hiện gồm hành vi dùng thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản là sử dụng nhiều tiền lẻ với mệnh giá lớn và hành vi vặn ga chạy xe đi mất. Trường hợp này, cần xác định xem hành vi nào là hành vi khách quan, hành vi nào là hành vi đi liền trước hành vi khách quan để xác định tội danh. Nếu hành vi khách quan là dùng thủ đoạn gian dối nhằm để nạn nhân tin tưởng và tự nguyện đưa tài sản thì xác định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngược lại, nếu hành vi khách quan là hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai, nhanh chóng thì trường hợp này phải xác định là Tội cướp giật tài sản.

Xét thấy, hành vi dùng thủ đoạn gian dối để các nạn nhân tin tường giao kết và sử dụng nhiều tiền mặt với mệnh giá lớn nhằm để các nạn nhân chủ quan và mất thời gian kiểm kê tiền này được xác định là hành vi đi liền trước hành vi khách quan, không phải là hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm. Bởi vì, mặc dù người phạm tội có dùng thủ đoạn gian dối để nạn nhân tin tưởng giao chiếc điện thoại nhưng trong trường hợp này ý thức nạn nhân là tạm thời giao điện thoại cho người phạm tội để bản thân nạn nhân có thời gian kiểm tra tiền thanh toán và để người phạm tội có thể kiểm tra hàng hóa, tức là nạn nhân vẫn quản lý, quan sát được tài sản của chính mình. Do đó, hành vi trên không dùng để xác định Tội danh. Tội danh trong tình huống này phải là Tội cướp giật tài sản với hành vi khách quan là chiếm đoạt tài sản công khai, nhanh chóng thông qua việc A vặn ga bỏ chạy nhằm chiếm đoạt chiếc điện thoại của nạn nhân khi họ đang kiểm tra khoản tiền. Yếu tố công khai được xác định ở chỗ người phạm tội không dấu giếm, che dấu hành vi phạm tội của mình, thực tế nạn nhân biết được tài sản của mình đang bị chiếm đoạt.

Như vậy, dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai, nhanh chóng và dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội,người phạm tội có thể sử dụng thêm thủ đoạn gian dối đi liền trước hành vi khách quan. Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong điều luật. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt không ảnh hưởng tới việc định tội đối với hành vi cướp giật tài sản.

Các hành vi phạm tội trên thực tiễn diễn ra ngày càng đa dạng, phức tạp, có cả dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này và cũng có cả dấu hiệu đặc trưng của tội phạm khác dẫn đến các quan điểm khác nhau trong việc định tội như ví dụ nêu trên. Do đó, khi kết luận tội danh cần xem xét kỹ lưỡng hành vi phạm tội trên thực tế để xác định được hành vi nào là hành vi khách quan cấu thành tội phạm, hành vi nào là hành vi đi liền trước trước hành vi khách quan, đảm bảo việc định tội đúng người đúng tội, đúng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

 

3. Dùng hành vi gian dối để tiếp cận tài sản nhằm cướp giật tài sản thì bị phạt bao nhiêu năm tù?

Dù người phạm tội nhanh chóng chiếm đoạt tài sản hay sử dụng hành vi gian dối để tiếp cận tài sản với mục đích là cướp giật tài sản thì sẽ cấu thành tội Cướp giật tài sản được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi thì người phạm tội có thể bị áp dụng một trong các hình phạt chính như sau:

- Phạt tù có thời hạn, trong đó thời hạn cao nhất là 20 năm;

- Tù chung thân

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng.

Bài viết liên quan: So sánh tội cướp giật tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản? Gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng.